|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 307/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16-8-2024
Về tranh chấp: Ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Trường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Quang Chung
Bà Nguyễn Thị Kim Chung
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thanh Lam - Thư ký Toà án nhân dân
thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định
tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 264/2024/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08-8-2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1990; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú: 2B khu tập thể T, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Số B T, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 1990; số căn cước công dân: [...]; nơi cư trú: Số B T, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N, tỉnh Nam Định. (Có đơn xin giải quyết vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện tranh chấp về hôn nhân và gia đình nộp ngày 21-11-2022, trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị G trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Xuân T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố N ngày 28-10-2016. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận được một thời gian đầu, khoảng vài năm trở lại đây thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do cuộc sống vợ chồng không hòa thuận về tình cảm, anh T ít quan tâm đến cuộc sống gia đình. Thời gian gần đây chị phát hiện ra anh T chơi bời và nợ nần ở bên ngoài, kinh tế gặp nhiều khó khăn một mình chị phải lo cho cả gia đình nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau. Vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện để khắc phục mâu thuẫn nhưng hai bên không tìm được tiếng nói chung. Trước khi anh T vi phạm pháp luật và bị bắt, vợ chồng đã có thời gian sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, để ổn định cuộc sống cho mẹ con chị, chị có nguyện vọng xin được ly hôn anh Nguyễn Xuân T.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Thanh P (giới tính: Nam), sinh ngày 07-8-2017 và Nguyễn Trà M (giới tính: Nữ), sinh ngày 02-3-2020. Nếu ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng nuôi cả hai con. Chị không yêu cầu anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và vay nợ chung của vợ chồng: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 06-8-2024 bị đơn là anh Nguyễn Xuân T trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị G kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố N năm 2016. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra xô xát, cãi nhau. Vợ chồng đã sống ly thân được một thời gian. Nay chị G có nguyện vọng ly hôn anh nhất trí ly hôn với chị G.
Về con chung: Vợ chồng anh chị có hai con chung là Nguyễn Thanh P (giới tính: Nam), sinh ngày 07-8-2017 và Nguyễn Trà M (giới tính: Nữ), sinh ngày 02-3-2020. Nếu ly hôn anh đồng ý giao hai con cho chị G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và vay nợ chung của vợ chồng: anh Nguyễn Xuân T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2
Tại biên bản thu thập tài liệu chứng cứ tại chính quyền địa phương xác nhận chị G và anh T sinh sống tại số nhà B T, phường L, thành phố N, quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn nên chị G đã làm đơn xin ly hôn anh T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định căn cứ Điều 21, Điều 262 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhận xét đánh giá:
Về quá trình tiến hành tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng các qui định của pháp luật.
Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa chị G và anh T là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, anh T đã bị bắt về hành vi vi phạm pháp luật. Nay chị G có nguyện vọng ly hôn, anh T cũng nhất nhất trí ly hôn với chị G. Xét hôn nhân của chị G và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị G và anh Nguyễn Xuân T. Về con chung: Vợ chồng anh chị có hai con chung là Nguyễn Thanh P (giới tính: Nam), sinh ngày 07-8-2017 và Nguyễn Trà M (giới tính: Nữ), sinh ngày 02-3-2020. Xét nguyện vọng của chị G muốn được trực tiếp nuôi con, anh T cũng nhất trí. Đồng thời, nguyện vọng của con chung Nguyễn Thanh P cũng muốn được ở với mẹ. Vì vậy căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định giao con chung cho chị G trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị G không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị G là nguyên đơn nên phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị G là nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Xuân T là bị đơn đã có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Nguyễn Thị G và anh Nguyễn Xuân T.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị G và anh Nguyễn Xuân T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố N ngày 28-10-2016 nên hôn nhân giữa chị G và anh T là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn chị G và anh T chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, anh T vi phạm pháp luật đã bị bắt tạm giam. Vợ chồng đã sống ly thân, nay chị G xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị có nguyện vọng xin được ly hôn anh T, anh T cũng có quan điểm nhất trí ly hôn với chị G. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị G và anh T ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử có căn cứ cho ly hôn giữa chị G và anh T theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: Vợ chồng anh chị có hai con chung là Nguyễn Thanh P (giới tính: Nam), sinh ngày 07-8-2017 và Nguyễn Trà M (giới tính: Nữ), sinh ngày 02-3-2020, hiện nay con đang sống cùng chị G. Xét nguyện vọng của chị G và anh T về việc chị G được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung và nguyện vọng của con Nguyễn Thanh P muốn ở với mẹ. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ giao hai con chung cho chị Nguyễn Thị G trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Xét nguyện vọng của chị G không đề nghị anh T cấp dưỡng nuôi con chung là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Chị G và anh T đều xác nhận vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chị Nguyễn Thị G là nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị G và anh Nguyễn Xuân T.
2. Về con chung: Giao con Nguyễn Thanh P (giới tính: Nam), sinh ngày 07-8-2017 và con Nguyễn Trà M (giới tính: Nữ), sinh ngày 02-3-2020 cho chị Nguyễn Thị G trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Chấp nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị G không yêu cầu anh Nguyễn Xuân T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bên không trực tiếp nuôi con chung có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được hạn chế, cản trở các quyền này.
Bên không trực tiếp nuôi con chung có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con, không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con của người trực tiếp nuôi con chung
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị G phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị Nguyễn Thị G đã nộp tại biên lai số 0002235 ngày 31-7-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định.
4. Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị G và anh Nguyễn Xuân T có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì chị Nguyễn Thị G và anh Nguyễn Xuân T có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Trường |
5
Bản án số 307/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 307/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa chị Nguyễn Thị G và anh Nguyễn Xuân T
