|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 307/2024/HNGĐ-ST Ngày: 08 – 8-2024 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuân.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Võ Hoàng Nghiệp;
- Ông Phan Phước Tân.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàn Mỹ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 173/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 395/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 430/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lê Văn N, sinh năm 1996; địa chỉ: Tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Bà Trương Thị Phi N1, sinh năm 1998; địa chỉ: Số nhà B, khóm H, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang.
Ông Lê Văn N vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bà Trương Thị Phi N1 vắng mặt không rõ lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của ông Lê Văn N; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Văn N và bà Trương Thị Phi N1 tự tìm hiểu, quen biết và tiến đến hôn nhân vào năm 2017, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 11 ngày 17/02/2021. Quá trình chung sống thì phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, khiến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Ông N và bà N1 đã sống ly thân nhau từ hơn một năm nay. Gia đình cũng đã động viên, hòa giải nhưng không thể hàn gắn. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên ông N yêu cầu được ly hôn với bà N1.
Về con chung: Quá trình chung sống có 01 con chung tên: Lê Thiên A, sinh ngày 20/7/2021. Con chung hiện đang sống cùng ông N. Ông N yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung, không yêu cầu bà N1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập bà Trương Thị Phi N1 để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 06/6/2024 nhưng bà N1 vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà N1, bà N1 cũng không cung cấp bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
- Về tài liệu, chứng cứ:
Các tài liệu, chứng cứ do ông Lê Văn N giao nộp: Giấy chứng nhận kết hôn số 11 ngày 17/02/2021 (bản chính); Giấy khai sinh mang tên Lê Thiên A, sinh ngày 20/7/2021 (bản sao); Bản sao Căn cước công dân mang tên Lê Văn N.
Các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập: Biên bản xác minh tại Công an thị trấn Đ, huyện A ngày 21/6/2024; bản chính bản tự khai người làm chứng mang tên Lê Thị C kèm căn cước công dân.
Tại phiên tòa, do ông N và bà N1 đều vắng mặt nên Hội đồng xét xử công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Theo Biên bản xác minh ngày 21/6//2024, đại diện Công an thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang cho biết: Bà Trương Thị Phi N1, sinh ngày 15/11/1998 có nơi thường trú tại: khóm H, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang. Số định danh cá nhân: 089198015480. Họ và tên C1: Nguyễn V; Họ và tên mẹ; Nguyễn Thị T.
Theo bản tự khai ngày 17/6/2024, bà Lê Thị C cho biết: Ông N là con ruột của bà C. Bà C trình bày thống nhất với ông N về thời gian và điều kiện đi đến hôn nhân, về con chung. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn và không hòa hợp. Bà C cũng đã nhiều lần động viên, hòa giải nhưng cả hai cũng không thể hàn gắn. Ông N và bà N1 đã sống ly thân nhau khoảng hơn 01 năm nay. Do bận công việc làm ăn nên bà C yêu cầu được vắng mặt khi Tòa án triệu tập.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi.
Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Lê Văn N; về con chung, đề nghị giao con chung tên Lê Thiên A, sinh ngày 20/7/2021 cho ông N được nuôi dưỡng và bà N1 không phải cấp dưỡng nuôi con; ông N khai không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên không đề cập giải quyết. Về án phí: Ông N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định, bà N1 không phải chịu án phí.
Các bên đương sự xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho tòa án; không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng bị đơn bà Trương Thị Phi N1 đều vắng mặt không rõ lý do; đồng thời bà N1 đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do. Như vậy, bà N1 đã tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình. Do đó, vụ án được xem không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố Tụng dân sự năm 2015 và Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về thẩm quyền giải quyết:
Bà Trương Thị Phi N1 có nơi thường trú tại: Khóm H, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang theo quy định tại các điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và quy định tại khoản 1 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân:
Quá trình chung sống, ông Lê Văn N và bà Trương Thị Phi N1 phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, khiến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Ông N và bà N1 đã sống ly thân nhau hơn một năm nay, không hàn gắn tình cảm. Gia đình cũng đã động viên, hòa giải nhưng không thể hàn gắn. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa ông N và bà N1 đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông N theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về con chung:
Quá trình chung sống, ông N và bà N1 có 01 con chung tên: Lê Thiên A, sinh ngày 20/7/2021. Con chung hiện đang sống cùng ông N.
Sau khi xem xét yêu cầu của ông N. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận để ông N được tiếp tục nuôi dạy con chung.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã giải thích cho ông N về quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung đối với người không trực tiếp nuôi con chung, cũng như nghĩa vụ cấp dưỡng của người không trực tiếp nuôi con chung, nhưng ông N vẫn giữ nguyên ý kiến của mình về việc không yêu cầu bà N1 cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định công nhận sự tự nguyện của ông N trong việc không yêu cầu bà N1 cấp dưỡng để nuôi dạy con chung.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Bà Trương Thị Phi N2 cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của ông Lê Văn N. Ngược lại, ông N cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở bà N2 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung:
Ông N không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên nếu sau này bà N2 có yêu cầu về tài sản chung thì Tòa án sẽ xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.
- Về quan hệ hôn nhân:
- Về án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác:
Ông Lê Văn N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, bà Trương Thị Phi N1 không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Ông N và bà N1 có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; các điều 147, Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn N.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Văn N được ly hôn với bà Trương Thị Phi N1.
- Về con chung: Ông Lê Văn N được trực tiếp nuôi dạy con chung tên: Lê Thiên A, sinh ngày 20/7/2021. Bà Trương Thị Phi N1 không phải cấp dưỡng để nuôi dạy con chung.
Bà Trương Thị Phi N1 cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của ông Lê Văn N. Ngược lại, ông N cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở bà N1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
- Về án phí sơ thẩm: Ông Lê Văn N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, số tiền này được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí mà ông N đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009458 ngày 21/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Bà Trương Thị Phi N1 không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Án tuyên công khai vắng mặt ông Lê Văn N và bà Trương Thị Phi N1. Ông N và bà N1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
- Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Tuân |
Bản án số 307/2024/HNGĐ-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 307/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Văn Ngộ và bà Trương Thị Phi Nhung tự tìm hiểu, quen biết và tiến đến hôn nhân vào năm 2017, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Châu Phú B, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 11 ngày 17/02/2021. Quá trình chung sống thì phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, khiến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Ông Ngộ và bà Nhung đã sống ly thân nhau từ hơn một năm nay. Gia đình cũng đã động viên, hòa giải nhưng không thể hàn gắn. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên ông Ngộ yêu cầu được ly hôn với bà Nhung. Về con chung: Quá trình chung sống có 01 con chung tên: Lê Thiên An, sinh ngày 20/7/2021. Con chung hiện đang sống cùng ông Ngộ. Ông Ngộ yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung, không yêu cầu bà Nhung cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
