|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 307/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 23-6-2025
V/v: Ly hôn, nuôi con chung giữa
chị Trần Thị Anh Thư và anh Phan Vũ Thái
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Bang.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Quang Bảo;
Bà Trần Thị Mai.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thiên Dung - Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 142/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2025 về “ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 38/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Anh T, sinh ngày 28-4-2003; Nơi đăng ký thường trú: Xóm B, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; Nơi cư trú: Số B Hoàng Đạo T, phường T, quận C, thành phố Hà Nội; Số căn cước công dân: [...]. Có đơn đề nghị vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Phan Vũ T1, sinh ngày 27-7-2000; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số F ngõ E đường N, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định; Số căn cước công dân: [...]. Văng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện đề ngày 01-4-2025, Bản tự khai đề ngày 08-4-2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Trần Thị Anh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phan Vũ T1 tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C (phường T cũ), thành phố N, tỉnh Nam Định ngày 30-5-2023. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hoà thuận, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm. Vợ chồng hiện nay đã sống ly thân. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định giải quyết cho chị ly hôn với anh Phan Vũ T1.
Về con chung: Chị T và anh T1 hiện có 01 con chung là cháu Phan Đăng A, sinh ngày 03-10-2023, giới tính: Nam. Hiện cháu A đang sinh sống cùng với chị T. Chị T có nguyện vọng, nếu Toà án giải quyết cho chị ly hôn với anh T1 thì giao cháu A cho chị trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Nếu chị T được giao trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục thì chị không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung cho chị.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Chị T không yêu cầu Toà án giải quyết.
2. Bị đơn là anh Phan Vũ T1 đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Toà án, nhưng anh T1 không đến làm việc nên không có quan điểm để giải quyết.
3. Kết quả xác minh ngày 03-4-2025 của Toà án tại địa phương anh Phan Vũ T1 cư trú xác nhận: Chị Trần Thị Anh T, sinh năm 2003 và anh Phan Vũ T1, sinh năm 2000 kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T cũ (nay là Ủy ban nhân dân phường C), thành phố N, tỉnh Nam Định ngày 30-5-2023. Chị T và anh T1 có 01 con chung là cháu Phan Đăng A, sinh ngày 03-10-2023, giới tính: Nam. Việc chị T và anh T1 chung sống có phát sinh mâu thuẫn và nguyên nhân mâu thuẫn thì địa phương không nắm được.
4. Kết quả xác minh ngày 10-4-2025 của Toà án tại Cơ quan công an phường N nơi anh Phan Vũ T1 cư trú xác nhận: Anh Phan Vũ T1, sinh năm 2000 có địa chỉ đăng ký thường trú tại số F ngõ E đường N, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định. Ngoài ra, anh Phan Vũ T1 không có đăng ký tạm trú tại địa chỉ nào khác.
5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên toà:
Về tố tụng: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ theo Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng nhiệm vụ quyền hạn theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn là chị Trần Thị Anh T đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Phan Vũ T1 chưa thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T. Về con chung, căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình giao con chung là cháu Phan Đăng A, sinh ngày 03-10-2023, giới tính: Nam cho chị Trần Thị Anh T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Về cấp dưỡng con chung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nguyên đơn phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: Chị Trần Thị Anh T có đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết vấn đề ly hôn và tranh chấp nuôi con chung với anh Phan Vũ T1. Xét thấy, tranh chấp giữa chị T và anh T1 là tranh chấp về hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn là anh Phan Vũ T1 có đăng ký thường trú và cư trú tại địa chỉ số F ngõ E đường N, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
[1.3] Về sự có mặt của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn là chị Trần Thị Anh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Phan Vũ T1 đã được triệu tập hợp lệ đến phiên toà lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị T và anh T1.
[2] Về nội dung vụ án.
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Anh T và anh Phan Vũ T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn ngày 30-5-2023 tại Ủy ban nhân dân phường C (phường T cũ), thành phố N, tỉnh Nam Định là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị T và anh T1 không hoà thuận, có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Chị T và anh T1 đã sống ly thân. Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, tạo điều kiện để hai bên đoàn tụ nhưng anh T1 vắng mặt nên Toà án không thể tiến hành hoà giải được. Chị T có ý kiến đề nghị Toà án không tiếp tục tiến hành hoà giải và đưa vụ án ra xét xử để giải quyết vấn đề hôn nhân và con chung giữa chị và anh T1.
Xét thấy quan hệ hôn nhân của chị Trần Thị Anh T và anh Phan Vũ T1 hiện đã rơi vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xử cho ly hôn giữa chị Trần Thị Anh T và anh Phan Vũ T1.
[2.2] Về nuôi con chung: chị T và anh T1 hiện có 01 con chung là cháu Phan Đăng A, sinh ngày 03-10-2023, giới tính: Nam.
Xét thấy cháu A còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi, từ khi chị T và anh T1 ly thân thì cháu A đã sinh sống ổn định với chị T và do chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, anh T1 đều vắng mặt không có lý do, không có quan điểm gì về việc nuôi dưỡng con chung.
Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, căn cứ vào các Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử giao cho chị Trần Thị Anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Phan Đăng A, sinh ngày 03-10-2023, giới tính: Nam.
Về cấp dưỡng: Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện của chị Trần Thị Anh T không yêu cầu anh Phan Vũ T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Chị T không yêu cầu giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn là chị Trần Thị Anh T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 và khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Trần Thị Anh T và anh Phan Vũ T1.
2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Trần Thị Anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Phan Đăng A, sinh ngày 03-10-2023, giới tính: Nam, số định danh cá nhân: 036223013782.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Phan Vũ T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Phan Vũ T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Anh T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn) chị Trần Thị Anh T đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002713 ngày 02 tháng 4 năm 2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
4. Quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Anh T và anh Phan Vũ T1 có quyền kháng cáo bản án là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì chị Trần Thị Anh T và anh Phan Vũ T1 có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Bang |
Bản án số 307/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 307/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Trần Thị Anh T và anh Phan Vũ T. 2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Trần Thị Anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Phan Đăng A, sinh ngày 03-10-2023, giới tính: Nam. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Phan Vũ T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
