TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 307/2025/DS-ST Ngày: 17/6/2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng" | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Yến
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đoàn Văn Rỹ;
- Ông Danh Cư.
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bạch Yến – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nga – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 239/2025/TLST-DS ngày 13/3/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2025/QĐXXST-DS ngày 05/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 100/2025/QĐST-DS ngày 26/5/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty T (Việt Nam)
Địa chỉ: Số 1 đường P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Công ty L, địa chỉ: P, Tầng D, tòa nhà S đường T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh có đại diện hợp pháp là bà Lâm Thị Thùy D, sinh năm 2000, chức danh: Nhân viên pháp lý. Là đại diện theo ủy quyền theo Văn bản ủy quyền ngày 01/3/2023, ngày 02/4/2024, ngày 03/4/2024, ngày 01/3/2025 và ngày 17/4/2025. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Lâm Vĩnh B, sinh năm 1979
Địa chỉ: Số 1 đường B, Phường A (nay là phường H), Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 31/12/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là Công ty T (Việt Nam) (sau đây viết tắt là Công ty) có bà Lâm Thị Thùy D là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Công ty ký Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4037903 ngày đề nghị vay 30/11/2022 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) về việc cấp tín dụng cho ông Lâm Vĩnh B với khoản vay trị giá 53.850.000đồng bao gồm 50.000.000đồng, giải ngân qua số tài khoản cá nhân của ông B là 060102272040 mở tại Ngân hàng TMCP S theo Phiếu báo nợ ngày giao dịch 02/12/2022 và 3.850.000đồng tiền bảo hiểm khoản vay theo Giấy chứng nhận bảo hiểm ngày 03/12/2022. Quy định về lãi suất như sau:
- Mức lãi suất trong hạn là 48%/năm;
- Lãi suất quá hạn là 150% x Lãi suất trong hạn; - Lãi suất chậm trả là 10%/năm.
Sau khi ký kết Hợp đồng tín dụng, Công ty đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho ông B. Theo Hợp đồng tín dụng, bị đơn có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng trong kỳ hạn 36 tháng kể từ ngày 10/01/2023 đến ngày 10/12/2025.
Sau khi được giải ngân, ông B đã thanh toán tổng cộng là 28.608.000đồng bao gồm nợ gốc là 7.558.046đồng; nợ lãi là 20.929.954đồng và phí thu hộ là 120.000đồng.
Tuy nhiên, từ ngày 12/10/2023, ông B đã không thanh toán đầy đủ theo nghĩa vụ thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng. Do đó, kể từ ngày 10/11/2023 (kỳ thanh toán thứ 10), Công ty bắt đầu tính nợ quá hạn đối với từng kỳ thanh toán mà ông B vi phạm. Công ty nhiều lần liên hệ với ông B để yêu cầu trả nợ nhưng ông B vẫn không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng.
Nay Công ty khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông B thanh toán một lần cho Công ty số tiền còn nợ tính đến ngày 05/5/2025 tổng cộng là 86.921.705đồng theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết, bao gồm:
- Nợ gốc: 46.291.954 đồng;
- Tiền lãi trong hạn: 25.790.792đồng;
- Tiền lãi quá hạn: 12.611.685đồng;
- Tiền lãi chậm trả: 2.227.274đồng.
Ông B phải tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 06/05/2025 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Công ty yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải vì ông B không có thiện chí có mặt để giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn là Ngân hàng có người đại diện hợp pháp là bà Lâm Thị Thùy D trình bày:
Công ty vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông B thanh toán một lần cho Công ty số tiền còn nợ tính đến ngày 17/6/2025 tổng cộng là 91.164.474đồng. Trong đó:
- Nợ gốc: 46.291.954đồng;
- Tiền lãi trong hạn: 27.377.069đồng;
- Tiền lãi quá hạn: 14.954.327đồng;
- Tiền lãi chậm trả: 2.541.124đồng.
Ông B phải tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 18/6/2025 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Bị đơn là ông Lâm Vĩnh B được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng ông B vẫn vắng mặt không lý do và không có văn bản trình bày ý kiến về việc giải quyết vụ án gửi đến Tòa án.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án đến khi đưa ra xét xử và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án:
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn là Ngân hàng yêu cầu bị đơn là ông Lâm Vĩnh B có địa chỉ tại Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, phải trả một lần cho Ngân hàng toàn bộ số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Như vậy, đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn là ông Lâm Vĩnh B được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ đến lần thứ hai nhưng ông B vẫn vắng mặt không lý do và không có văn bản trình bày ý kiến về việc giải quyết vụ án gửi đến Tòa án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về yêu cầu của đương sự:
Bị đơn là ông Lâm Vĩnh B đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự để trình bày ý kiến, thông báo và giấy triệu tập đương sự tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng ông B vẫn vắng mặt không lý do và không có văn bản trình bày ý kiến về việc giải quyết vụ án gửi đến Tòa án. Như vậy, ông B đã tự từ bỏ việc thực hiện quyền cung cấp chứng cứ, chứng minh, quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án giải quyết vụ án trên cơ sở chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.1] Về hình thức của hợp đồng:
Ông Lâm Vĩnh B có ký với Công ty Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4037903 ngày đề nghị vay 30/11/2022. Thực hiện hợp đồng, ngày 02/12/2022, Công ty đã giải ngân cho ông B số tiền 50.000.000đồng bằng phương thức chuyển tiền vào tài khoản cá nhân của ông B mở tại Ngân hàng TMCP S theo số tài khoản: 060102272040 theo Phiếu báo nợ ngày 02/12/2022 của Ngân hàng TMCP K và nộp 3.850.000đồng tiền bảo hiểm khoản vay theo Giấy chứng nhận bảo hiểm ngày 03/12/2022. Việc ký kết là hoàn toàn tự nguyện, các điều khoản hai bên thỏa thuận trong hợp đồng đều đáp ứng đủ điều kiện chủ thể ký kết hợp đồng và phù hợp với nội dung quy định tại Điều 91, Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 đã được sửa đổi, bổ một số điều theo Luật số 17/2017/QH14. Nội dung trong hợp đồng không trái đạo đức xã hội, không trái pháp luật, do vậy Hợp đồng có hiệu lực pháp luật và các bên phải có nghĩa vụ chấp hành.
[2.3] Về yêu cầu thanh toán nợ:
Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, các tài liệu có trong hồ sơ như: Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4037903 ngày đề nghị vay 30/11/2022, Phiếu báo nợ ngày 02/12/2022 của Ngân hàng TMCP K, Giấy chứng nhận bảo hiểm ngày 03/12/2022, Báo cáo lịch sử thanh toán hợp đồng tín dụng, Báo cáo thu hồi nợ vay hợp đồng tín dụng, đủ cơ sở xác định ông B còn nợ Công ty tính đến ngày 17/6/2025 số tiền là 91.164.474đồng. Trong đó:
- Nợ gốc: 46.291.954đồng;
- Tiền lãi trong hạn: 27.377.069đồng;
- Tiền lãi quá hạn: 14.954.327đồng;
- Tiền lãi chậm trả: 2.541.124đồng.
Căn cứ vào Điều 8 của Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4037903 ngày đề nghị vay 30/11/2022, ông B có nghĩa vụ thanh toán nợ gốc, tiền lãi và các nghĩa vụ tài chính khác đầy đủ và đúng hạn. Vì vậy yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 17/6/2025 số tiền là 91.164.474đồng là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 280, Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 8 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Ngoài ra, Công ty còn yêu cầu kể từ ngày 18/6/2025, ông B còn phải tiếp tục thanh toán số tiền lãi, phí trên số nợ chưa thanh thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho đến khi thanh toán hết khoản nợ. Yêu cầu này của Công ty là phù hợp với quy định tại Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
[3] Về án phí:
Do ông B có nghĩa vụ trả tiền nên ông B có nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải trả. H lại số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý về sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[4] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 90 và Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ vào Điều 280, Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty T (Việt Nam).
- Buộc ông Lâm Vĩnh B thanh toán cho Công ty T (Việt Nam) số tiền là 91.164.474đồng (chín mươi mốt triệu một trăm sáu mươi bốn ngàn bốn trăm bảy mươi bốn đồng) trong đó nợ gốc là 46.291.954đồng (bốn mươi sáu triệu hai trăm chín mươi mốt ngàn chín trăm năm mươi bốn đồng), tiền lãi trong hạn là 27.377.069đồng (hai mươi bảy triệu ba trăm bảy mươi bảy ngàn không trăm sáu mươi chín đồng), tiền lãi quá hạn là 14.954.327đồng (mười bốn triệu chín trăm năm mươi bốn ngàn ba trăm hai mươi bảy đồng) và tiền lãi chậm trả là 2.541.124đồng (hai triệu năm trăm bốn mươi mốt ngàn một trăm hai mươi bốn đồng) theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4037903 ngày đề nghị vay 30/11/2022.
- Kể từ ngày 18/6/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ, ông Lâm Vĩnh B phải tiếp tục thanh toán tiền lãi trên số tiền phải thi hành tương ứng theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4037903 ngày đề nghị vay 30/11/2022.
- Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Lâm Vĩnh B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.558.224đồng (bốn triệu năm trăm năm mươi tám ngàn hai trăm hai mươi bốn đồng).
- Công ty T (Việt Nam) được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.402.675đồng (một triệu bốn trăm lẻ hai ngàn sáu trăm bảy mươi lăm đồng) theo Biên lai số 0031426 ngày 28/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về quyền kháng cáo:
- Công ty T (Việt Nam) có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
- Ông Lâm Vĩnh B có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Ngọc Yến |
Bản án số 307/2025/DS-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 307/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tín dụng
