Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 307/2025/DS-PT

Ngày: 09-6-2025

“V/v Tranh chấp hợp đồng

vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Thọ.
Các Thẩm phán: Ông Lê Khắc Thịnh;
Ông Nguyễn Ngọc Thông.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Huỳnh Thị Đạm - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 04 và 09 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 149/2025/TLPT-DS ngày 18 tháng 4 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2025/DS-ST ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 298/2025/QĐ-PT ngày 19 tháng 5 năm 2025 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 164/2025/QĐPT-DS ngày 04 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, giữa:

Nguyên đơn: Anh Dương Duy Đ, năm sinh 1980 và bà Nguyễn Thị Yến L, sinh năm 1960; cùng địa chỉ cư trú: Ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Yến L là anh Dương Duy Đ (Theo văn bản ủy quyền ngày 19/8/2024); có mặt.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1961, địa chỉ cư trú: Ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; có mặt.

- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Thu H là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa phiên thẩm, nguyên đơn anh Dương Duy Đ, cũng là đại diện của bà Nguyễn Thị Yến L, trình bày: Anh L và mẹ anh là bà Nguyễn Thị Yến L có quen biết với bà Nguyễn Thị Thu H, nên mẹ con anh đã cho bà Thu H vay số tiền 350.000.000đ và có làm biên nhận ngày 9/7/2021, do bà Thu H ký nhận và lăn tay, việc vay không có ghi thời hạn trả, có thỏa thuận lãi suất là 5%/tháng, mục đích vay là để đầu tư nuôi tôm và trang trải cuộc sống. Trong quá trình vay, bà T Hai chỉ trả lãi được 05 tháng, mỗi tháng 5.000.000đ. Từ ngày 01/01/2022 đến nay bà T Hai không trả khoản tiền gốc, lãi nào. Do có nhu cầu đòi lại tiền gốc nên ngày 17/7/2024, anh và mẹ anh đã yêu cầu bà T Hai trả lại số tiền vay gốc 350.000.000đ và tiền lãi, nhưng bà T hai không trả. Nay anh và mẹ anh yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu H có nghĩa vụ trả số tiền vay nợ gốc là 350.000.000đ và nợ lãi tính từ ngày 01/01/2022 đến 19/8/2024 là 31 tháng 18 ngày, lãi suất 1,66%/tháng là 183.596.000đ, tổng cộng gốc và lãi là 533.596.000 đồng. Tại phiên tòa, anh đồng ý không tính lãi, chỉ yêu cầu trả gốc 350.000.000 đồng.

- Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H trình bày: Bà có tham gia chơi hụi do bà Yến L làm chủ hụi. Bà không có vay tiền gì của bà Yến L và anh Dương Duy Đ. Đến ngày 09/7/2021, bà còn nợ tiền hụi của bà Yến L 70.000.000 đồng tiền gốc và 22.000.000 đồng tiền lãi, tổng cộng nợ 92.000.000 đồng. Sau đó, bà Yến L và anh Dương Duy Đ tự làm biên nhận và bắt bà lăn tay vô. Do sợ gia đình biết bà thiếu nợ tiền hụi của bà Yến L và sợ bà Yến L làm lớn chuyện sẽ ảnh hưởng đến uy tín của chồng bà và hạnh phúc gia đình bà, nên bà đã ký tên, lăn tay vào biên nhận ngày 09/7/2021, do bà Yến L và anh Dương Duy Đ tự làm. Bà không biết chữ nên không đọc lại nội dung. Thật sự bà chỉ nợ tiền hụi của bà Yến L là 92.000.000 đồng, và đồng ý trả cho bà Yến L 92.000.000 đồng. Việc bà Yến L, anh Duy Đ trình bày là bà vay tiền 350.000.000 đồng để đầu tư nuôi tôm là không đúng, từ trước đến nay gia đình bả chỉ có 02 công đất rẩy trồng chuối và cây tạp không có đầu tư nuôi tôm gì cả.

- Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 91, 92, 95, 144, 147 và 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 463, 466, 468 và 469 của Bộ luật Dân sự; các Điều 12, 15, 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Dương Duy Đ và bà Nguyễn Thị Yến L.

Buộc bà Nguyễn Thị Thu H trả cho anh Dương Duy Đ và bà Nguyễn Thị Yến L số tiền vay còn nợ 350.000.000 (Ba trăm năm mươi triệu) đồng.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, về án phí, chi phí tố tụng khác và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm bà Thu H kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét sửa án sơ thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không đồng ý yêu cầu kháng cáo của bị đơn;
  • - Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo;
  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Tỉnh phát biểu ý kiến:
    • + Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm.
    • + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn; giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng:

Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Yến L và anh Dương Duy Đ đối với bị đơn là bà Nguyễn Thị Thu H về việc yêu cầu trả nợ vay nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là Tranh chấp hợp đồng vay tài sản phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ Luật tố tụng dân sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm nên có kháng cáo. Tòa án T1 thụ lý giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thu H về việc: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự đã xét xử; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của các bên đương sự thì bà H thừa nhận có ký tên, lăn tay vào biên nhận ngày 09/7/2021 mà phía nguyên đơn xuất trình cho Tòa án và nội dung biên nhận này thể hiện bà Thu H có vay và nhận của nguyên đơn số tiền 350.000.000 đồng.

Việc bà H trình bày bà chỉ nợ tiền hụi của bà Yến L 70.000.000 đồng tiền gốc và 22.000.000 đồng tiền lãi, tổng cộng nợ 92.000.000 đồng nhưng phía nguyên đơn cho rằng nợ hụi là một khoản nợ khác tổng cộng hơn 200.000.000 đồng nhưng việc chơi hụi giữa các bên thì nguyên đơn không có chứng cứ gì nên cũng không có yêu cầu gì đối với số tiền nợ hụi này.

Việc bà H cho rằng khi ký tên thì không xem lại văn bản nên không biết nội dung như thế nào, việc này nguyên đơn không thừa nhận nên bà Thu H phải chịu trách nhiệm với nội dung văn bản đã giao kết. Bà H không đưa ra được chứng cứ nên phải chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự:

Ngoài ra, tại phiên toà phúc thẩm bà T Hai không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh cho lời trình bày của mình.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà Thu H có nghĩa vụ trả số tiền vốn gốc đã vay 350.000.000 đồng cho nguyên đơn là phù hợp.

Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H.

Bà Thu H được miễn chịu tiền án phí phúc thẩm.

Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Xét lời trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là có căn cứ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 38, Điều 147, Điều 148 khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H;
  2. Giữ nguyên quyết định Bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2025/DS-ST ngày 13 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự;

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 91, 92, 95, 144, 147 và 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 463, 466, 468 và 469 của Bộ luật Dân sự; các Điều 12, 15, 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Dương Duy Đ và bà Nguyễn Thị Yến L.

Buộc bà Nguyễn Thị Thu H trả cho anh Dương Duy Đ và bà Nguyễn Thị Yến L số tiền vay còn nợ 350.000.000 (Ba trăm năm mươi triệu) đồng.

Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà H được miễn án phí.

Trả lại cho anh Dương Duy Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 6.670.000 đồng theo Biên lai số 0014353 ngày 02 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Thu H được miễn tiền án phí phúc thẩm;

Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Phòng TTKT&THA TAND Tỉnh;
  • - VKSND Tỉnh;
  • - TAND H. Hồng Ngự;
  • - Chi cục THADS H. Hồng Ngự;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, HSVA (Châu).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Phú Thọ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 307/2025/DS-PT ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 307/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng vay
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger