|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 307/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23-8-2024
V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Ngọc Tiếp.
Các Hội thẩm nhân dân:ông Hồ Bá Võ;
ông Võ Duy Bảo;
- Thư ký phiên tòa: bà Đậu Thị Bích Thủy, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Tuyết Loan, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 108/2024/TLST-HNGĐ ngày 26/3/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 247a/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 320/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Ngân Thị Y, sinh ngày 16/01/1994;
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: xóm T, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An;
Nơi làm việc: Công ty TNHH C; địa chỉ: số A, đường T, khu N, thành phố Đ, Đài Loan; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: anh Trần Văn Đ, sinh ngày 24/9/1988; địa chỉ: xóm T, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai, đơn xin vắng mặt của nguyên đơn - chị Ngân Thị Y nộp trực tiếp tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, chị Ngân Thị Y trình bày: chị Ngân Thị Y và anh Trần Văn Đ kết hôn hoàn toàn tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 18/12/2012 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An. Thời gian đầu, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, đầm ấm. Sau này vợ chồng mâu thuẫn thường xuyên; nguyên nhân do từ năm 2022 đến năm 2024, chị Y làm việc tại Đài Loan nhưng vì công việc không ổn định và sức khỏe không đảm bảo nên số tiền gửi về nhà không được như mong muốn; từ đó vợ chồng thường xuyên xích mích, không có tiếng nói chung. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Ngân Thị Y yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Văn Đ.
Về con chung: chị Y, anh Đ có 02 con chung là Trần Văn Gia H, sinh ngày 14/11/2013 và Trần Văn Gia B, sinh ngày 27/05/2016; hiện các cháu đang sống cùng anh Trần Văn Đ. Do chị Y phải trở lại Đài Loan để tiếp tục làm việc nên chị đề nghị Toà án giao 02 con chung cho anh Trần Văn Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: vợ chồng tự thỏa thuận; không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 06 tháng 5 năm 2024, bị đơn - anh Đ trình bày: anh không đồng ý ly hôn; đề nghị giải quyết vấn đề tài sản chung của vợ chồng trong vụ án này nhưng yêu cầu chị Y phải làm các thủ tục để giải quyết tài sản chung, anh không liệt kê tài sản chung của vợ chồng để yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại Biên bản làm việc ngày 10 tháng 7 năm 2024, anh Đ khai rằng các nội dung mà Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An ủy thác cho Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ thực hiện việc thu thập chứng cứ thì anh đã khai tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An nên anh không khai nữa; mọi thủ tục ly hôn là tùy thuộc vào chị Ngân Thị Y.
Tai biên bản lấy lời khai ngày 05/8/2024, anh Trần Văn Đ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: anh nhất trí lời khai, lời trình bày của chị Ngân Thị Y có tại hồ sơ vụ án. Anh thấy còn tình cảm vợ chồng với chị Y và vì tương lai con chung, nên anh không nhất trí ly hôn.
Về con chung: Anh nhất trí với lời khai, trình bày của chị Ngân Thị Y về con chung và ngày tháng năm sinh của các con chung. Nếu ly hôn, anh đề nghị Tòa án giao 02 con chung cho anh tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Cháu Trần Văn Gia H cho biết cháu đang học lớp 5B, trường tiểu học Đ2. Hiện cháu đang sống với bố tại xóm T, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An. Nếu bố mẹ cháu không sống cùng nhau thì cháu có nguyện vọng được ở với bố là Trần Văn Đ.
Cháu Trần Văn Gia B cho biết cháu đang học lớp 2A, trường tiểu học Đ2. Hiện cháu đang sống với bố tại xóm T, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An. Nếu bố mẹ cháu không sống cùng nhau thì cháu có nguyện vọng được ở với bố là Trần Văn Đ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã ban hành các quyết định và thực hiện đầy đủ các trình tự thủ tục tố tụng, Hội đồng xét xử đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng tại phiên tòa.
Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn tuy không viết bản tự khai nhưng cũng đã đến Tòa án để làm việc và tham gia phiên tòa ngày 05/8/2023 nên cũng đã cơ bản thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Phiên tòa được mở lần thứ hai, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét thấy chị Ngân Thị Y và anh Trần Văn Đ kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 18/12/2012 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An, không vi phạm điều cấm của luật nên hôn nhân là hợp pháp. Theo chị Y thì kể từ năm 2022 đến năm nay, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do mâu thuẫn về vì lí do kinh tế, dẫn đến vợ chồng không thể tiếp tục đoàn tụ nên chị yêu cầu Tòa án cho chị ly hôn anh Trần Văn Đ. Anh Trần Văn Đ tuy không đồng ý ly hôn chị Y nhưng không đưa ra giải pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều này thể hiện tình cảm vợ chồng giữa chị Ngân Thị Y và anh Trần Văn Đ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Ngân Thị Y được ly hôn anh Trần Văn Đ. Đề nghị giao 02 con chung là Trần Văn Gia H và Trần Văn Gia B cho anh Trần Văn Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; do hai bên không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên miễn xét; về tài sản chung, nợ chung: miễn xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thẩm quyền giải quyết:
Vụ án về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” giữa nguyên đơn - chị Ngân Thị Y và bị đơn - anh Trần Văn Đ, chị Y, anh Đồng Đ1 có hộ khẩu thường trú tại xóm T, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An; nguyên đơn hiện đang sinh sống tại Đài Loan, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự:
Quá trình giải quyết vụ án, chị Ngân Thị Y đang cư trú tại Đài Loan, / chị đề nghị Tòa án không tiến hành công khai chứng cứ và hòa giải vắng mặt; đồng thời xin được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc, phiên họp và tất cả các phiên toà; ủy quyền cho chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1990, địa chỉ: xóm L, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An thay mặt chị nhận các văn bản, giấy tờ của Tòa án.
Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Ngân Thị Y, Hội đồng xét xử thấy rằng:
3.1. Về quan hệ hôn nhân: chị Ngân Thị Y và anh Trần Văn Đ kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 18/12/2012 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An, không vi phạm điều cấm của pháp luật nên hợp pháp. Theo chị Y thì kể từ năm 2022 đến năm nay, vợ chồng chị thường phát sinh mâu thuẫn vì lí do kinh tế dẫn đến hai người thường xuyên xích mích, không có tiếng nói chung. Nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể hòa giải được nên chị yêu cầu Tòa án cho chị ly hôn anh Trần Văn Đ. Anh Trần Văn Đ tuy không đồng ý ly hôn chị Y nhưng cũng không đưa ra giải pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều này thể hiện tình cảm vợ chồng giữa chị Ngân Thị Y và anh Trần Văn Đ đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Ngân Thị Y được ly hôn anh Trần Văn Đ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
3.2. Về con chung: Chị Ngân Thị Y và anh Trần Văn Đ có 02 con chung là Trần Văn Gia H, sinh ngày 14/11/2013 và Trần Văn Gia B, sinh ngày 27/05/2016; hiện các con đang sống cùng với bố là anh Trần Văn Đ. Ly hôn, chị Y đề nghị Tòa án giao 02 con chung cho anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Đ đề nghị được nuôi dưỡng 02 con chung.
Xét thấy: chị Y hiện nay đã trở lại Đài Loan làm việc; các con đang ở cùng anh Đ và anh Đ đồng ý tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung. Các con chung của anh Đ chị Y cũng có nguyện vọng được ở cùng bố. Vì vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con chung, cần giao 02 con chung Trần Văn Gia H và Trần Văn Gia B cho anh Trần Văn Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Y đề nghị vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Đ cũng không có ý kiến về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên miễn xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Ngân Thị Y, anh Trần Văn Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết, miễn xét.
[5] Về án phí: Chị Ngân Thị Y phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40; Điều 97, Điều 102, khoản 1 Điều 207, Điều 147 và điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: chị Ngân Thị Y được ly hôn anh Trần Văn Đ.
-
Về con chung: giao con chung là Trần Văn Gia H, sinh ngày 14/11/2013 và Trần Văn Gia B, sinh ngày 27/05/2016 cho anh Trần Văn Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tòa án không giải quyết.
Chị Ngân Thị Y có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Không ai được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung. Nếu ai vi phạm thì người kia có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung.
Sau khi ly hôn, vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không giải quyết.
- Về án phí: Chị Ngân Thị Y phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí chị Y đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012738 ngày 21 tháng 3 năm 2024.
Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết hợp lệ bản sao bản án.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết hợp lệ bản sao bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hồ Ngọc Tiếp |
Bản án số 307/2024/HNGĐ-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 307/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị Ngân Thị Y và anh Trần Văn Đ
