|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 307/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16/8/2024 Về ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thị Phương Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Kim Hồng, bà Nguyễn Thị Bích Liên.
Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Mùi Nái- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Huyền- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 286/2024/TLST-HNGĐ ngày 28/5/2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 344/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 240/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1986. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn N, xã N, huyện C, tỉnh Hải Dương. Nơi cư trú hiện nay: Đài Loan.
Người được chị H ủy quyền giao, nhận văn bản: Anh Đặng Thái L, sinh năm 1985. Địa chỉ: Khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1986. Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện C, tỉnh Hải Dương.
Các đương sự vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và các văn bản gửi cho Tòa án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện C, tỉnh Hải Dương ngày 15/12/2008. Tuy nhiên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc do anh T chơi bời, không có trách nhiệm với gia đình. Năm 2014, chị đi lao động tại Đài Loan, anh T ở nhà nhưng không chung thủy với chị. Từ năm 2017 đến nay, vợ chồng không liên lạc, không quan tâm tới nhau. Xác định vợ chồng không còn tình cảm và không thể đoàn tụ nên chị khởi kiện xin ly hôn anh T.
Chị với anh T có một con chung là Nguyễn Quỳnh A- sinh ngày 15/5/2010. Chị đề nghị giao cháu Quỳnh A cho anh Trung trực t nuôi dưỡng và chị sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ tài sản chung, nợ chung.
Sau khi nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, anh L đã thông báo cho chị H biết và chị H vẫn giữ nguyên các nội dung, quan điểm đã trình bày.
Tòa án nhiều lần triệu tập nhưng bị đơn là anh Nguyễn Văn T vắng mặt và không gửi cho Tòa án văn bản ghi quan điểm đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các nội dung liên quan đến vụ án.
Qua xác minh, ông Nguyễn Ngọc N (bố đẻ của anh Nguyễn Văn T) phản ánh: Sau khi kết hôn, vợ chồng anh T và chị H sinh sống cùng với ông. Năm 2017, chị H đi lao động tại Đài Loan, anh T đi làm công trình nên thường xuyên vắng nhà. Do vợ chồng mỗi người ở một nơi nên không có điều kiện để quan tâm, hỗ trợ, chia sẻ với nhau các vấn đề của cuộc sống dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Bản thân ông cũng không có biện pháp để giúp vợ chồng hàn gắn tình cảm. Ông nhận thay và đã thông báo cho anh T biết nội dung các văn bản của Tòa án. Anh T trao đổi với ông do tình cảm vợ chồng không còn nên anh T nhất trí ly hôn chị H. Nếu chị H không nuôi con thì anh T sẽ trực tiếp nuôi dưỡng cháu Quỳnh A cho tới khi thành niên và đề nghị Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Vì vậy ông đề nghị Tòa án chấp nhận cho anh T, chị H được ly hôn và ông sẽ tiếp tục hỗ trợ anh T chăm sóc cháu Quỳnh A.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát xác định Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã tuân theo và chấp hành đúng; bị đơn chưa chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117, 119 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của U. Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho chị Nguyễn Thị H ly hôn anh Nguyễn Văn T. Giao con chung Nguyễn Quỳnh A- sinh ngày 15/5/2010 cho anh Trung trực t nuôi dưỡng, chị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T là 2.500.000đ/tháng kể từ tháng 8/2024 cho tới khi con chung thành niên. Buộc chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng:
[1.1] Chị Nguyễn Thị H hiện đang sinh sống tại Đài Loan. Anh Nguyễn Văn T hiện có địa chỉ cư trú tại xã N, huyện C, tỉnh Hải Dương. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
[1.2] Các đương sự được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Nguyên đơn có văn bản đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[1.3] Các tài liệu chị H gửi cho Tòa án đều được chứng thực hợp pháp nên có cơ sở xác định nội dung các tài liệu thể hiện đúng ý chí, nguyện vọng của chị H.
[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện C, tỉnh Hải Dương ngày 15/12/2008. Cả hai bên đều đã đủ tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ khi đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Từ trình bày của chị H và ông N có cơ sở xác định chị H và anh T đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay không có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ và thực hiện các công việc trong gia đình. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị khởi kiện xin ly hôn anh T. Anh T vắng mặt tại các buổi làm việc với Tòa án và không gửi cho Tòa án văn bản ghi quan điểm về các nội dung liên quan đến vụ án đã thể hiện anh không có thiện chí đoàn tụ cùng chị H. Nhận thấy hôn nhân giữa chị H và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần xử cho chị H được ly hôn anh T theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị H và anh T có một con chung là Nguyễn Quỳnh A- sinh ngày 15/5/2010. Hiện chị H không có mặt ở Việt Nam nên không thể trực tiếp nuôi con. Thực tế từ khi vợ chồng sống ly thân thì cháu Quỳnh A vẫn luôn ở cùng anh T và ông N. Hiện cháu Quỳnh A có nguyện vọng được ở cùng anh T. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử cần giao cháu Quỳnh A cho anh Trung trực t nuôi dưỡng và buộc chị H thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng với mức 2.500.000đ/tháng.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117, 119 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn T.
- Về nuôi con chung: Giao con chung là Nguyễn Quỳnh A- sinh ngày 15/5/2010 cho anh Nguyễn Văn Trung trực t1 nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T là 2.500.000đ/tháng (hai triệu năm trăm nghìn đồng một tháng) kể từ tháng 8/2024 cho tới khi con chung thành niên. Cấp dưỡng theo tháng.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ án phí cấp dưỡng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (do chị Đặng Thái L nộp thay) theo biên lai số 0000746 ngày 28/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị H phải nộp tiếp số tiền án phí là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
- Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Thị Phương Thúy |
4
Bản án số 307/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 307/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị H xin ly hôn anh T
