Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 307/2023/DS-PT

Ngày: 24-8-2023

V/v tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ

về tài sản do người khác để lại

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Ngọc Yến
Các Thẩm phán: Ông Trần Tấn Quốc
Ông Đặng Văn Những

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Chiêu Linh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Phạm Khánh, Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 206/2023/TLPT-DS ngày 24 tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại".

Do bản án dân sự sơ thẩm số 49/2023/DS-ST ngày 05 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 257/2023/QĐ-PT ngày 07 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Đặng Thị P, sinh năm 1959.

    Địa chỉ: Số A ấp B, xã H, thành phố T, tỉnh Long An.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Lê Văn L, Chi nhánh Công ty L1 tại thành phố T, Đoàn Luật sư tỉnh Long An.

  2. Bị đơn:

    1. Bà Hồ Thị Bích T, sinh năm 1980.

    2. Anh Nguyễn Hoàng T1, sinh năm 2002.

    3. Cháu Nguyễn Thị Kim T2, sinh năm 2009.

    Người đại diện hợp pháp theo pháp luật của cháu Nguyễn Thị Kim T2: Bà Hồ Thị Bích T, sinh năm 1980 (là mẹ ruột).

    Cùng địa chỉ: Số B ấp B, xã H, thành phố T, tỉnh Long An.

    Người kháng cáo: Bị đơn bà Hồ Thị Bích T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Trong đơn khởi kiện ngày 16 tháng 5 năm 2022, đơn khởi kiện bổ sung ngày 20 tháng 3 năm 2023 và những lời trình bày trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm, nguyên đơn bà Đặng Thị P trình bày: Bà có cho ông Nguyễn Văn T3 vay nhiều lần với số tiền tổng cộng là 356.920.000 đồng, có làm giấy mượn tiền, cụ thể các lần vay như sau:

    • Vào ngày 02/3/2022 âm lịch (nhằm ngày 02/4/2022 dương lịch), vay số tiền là 8.360.000 đồng, không lãi suất. Mục đích vay là để trang trải trong gia đình, thời hạn trả là ngày 09/4/2022 âm lịch (nhằm ngày 09/5/2022 dương lịch).

    • Ngày 13/3/2022 âm lịch (nhằm ngày 13/4/2022 dương lịch), vay số tiền là 152.350.000 đồng, không lãi suất. Mục đích vay là để mua bảo hiểm nhân thọ và đóng tiền học phí cho con, thời hạn trả là ngày 09/4/2022 âm lịch (nhằm ngày 09/5/2022 dương lịch).

    • Ngày 20/3/2022 âm lịch (tức ngày 20/4/2022 dương lịch), vay số tiền là 196.210.000 đồng, không lãi suất. Mục đích vay là để trả nợ cho em vợ, thời hạn trả là ngày 09/4/2022 âm lịch (nhằm ngày 09/5/2022 dương lịch).

    Đến ngày 09/5/2022 ông T3 chết, bà xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông T3 có vợ là bà Hồ Thị Bích T, các con là Nguyễn Hoàng T1, sinh năm 2002 và Nguyễn Thị Kim T2, sinh năm 2009. Cha mẹ của ông T3 là ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1932 và bà Lê Thị S, sinh năm 1943 đều đã chết. Di sản thừa kế của ông T3 để lại là nhà ở và quyền sử dụng đất tại địa chỉ số B ấp B, xã H, thành phố T, tỉnh Long An hiện nay do bà T và các con đang quản lý sử dụng. Sau khi ông Thủ c, bà có yêu cầu bà T và các con là anh T1, em T2 là hàng thừa kế thứ nhất của ông T3 trả số tiền nợ vay 356.920.000 đồng nhưng các bị đơn không đồng ý trả. Nay bà yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An giải quyết buộc bà Hồ Thị Bích T, anh Nguyễn Hoàng T1 và em Nguyễn Thị Kim T2 do bà Hồ Thị Bích T là người đại diện hợp pháp theo pháp luật có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền nợ vay là 356.920.000 đồng và tiền lãi từ ngày 15/5/2022 cho đến ngày xét xử theo mức lãi suất 10%/năm.

  2. Bị đơn bà Hồ Thị Bích T đồng thời là người đại diện hợp pháp theo pháp luật của em Nguyễn Thị Kim T2 trình bày trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm như sau: Cha, mẹ của ông Nguyễn Văn T3 là ông Nguyễn Văn T4 và bà Lê Thị S cả hai đều đã chết, ông T3 có vợ là bà (Hồ Thị Bích T) cùng các con là Nguyễn Hoàng T1, và Nguyễn Thị Kim T2. Bà và các con không biết gì về khoản vay còn nợ của ông Nguyễn Văn T3. Bà không thừa nhận và không đồng ý trả khoản nợ vay này cho bà Đặng Thị P, yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết theo đúng quy định pháp luật.

  3. Bị đơn anh Nguyễn Hoàng T1 trình bày trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm như sau: Cha, mẹ của ông Nguyễn Văn T3 là ông Nguyễn Văn T4 và bà Lê Thị S cả hai đều đã chết, vợ của ông T3 là bà Hồ Thị Bích T cùng các con là anh (Nguyễn Hoàng T1) và Nguyễn Thị Kim T2. Bà T, anh và em Nguyễn Thị Kim T2 không biết gì về khoản vay còn nợ của ông Nguyễn Văn T3. Anh không thừa nhận và không đồng ý trả khoản nợ vay này cho bà Đặng Thị P, yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết theo đúng quy định pháp luật.

Vụ án đã được Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tiến hành hòa giải tranh chấp giữa các bên nhưng kết quả không thành nên quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 49/2022/DS-ST ngày 05 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An đã quyết định:

Căn cứ Điều 26, Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Các điều 68, 147, 235, 266, 267, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ các điều 463, 466, 468, 470, 615, 617, 618, 623, 651, 658 Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị P đối với bà Hồ Thị Bích T, anh Nguyễn Hoàng T1, em Nguyễn Thị Kim T2 do bà Hồ Thị Bích T là người đại diện hợp pháp theo pháp luật là những người thừa kế của ông Nguyễn Văn T3.

    Buộc những người thừa kế của ông Nguyễn Văn T3 là bà Hồ Thị Bích T, anh Nguyễn Hoàng T1, em Nguyễn Thị Kim T2 do bà Hồ Thị Bích T là người đại diện hợp pháp theo pháp luật có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Đặng Thị P số tiền nợ gốc vay là 356.920.000 đồng (ba trăm năm mươi sáu triệu, chín trăm hai mươi nghìn đồng) và tiền nợ lãi là 34.700.554 đồng (ba mươi bốn triệu, bảy trăm nghìn, năm trăm năm mươi bốn đồng), tổng cộng là 391.620.554 đ (ba trăm chín mươi mốt triệu, sáu trăm hai mươi nghìn, năm trăm năm mươi bốn đồng) trong phạm vi di sản do ông Nguyễn Văn T3 để lại ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  2. Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 08/2022/QĐ-BPKCTT ngày 13/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ”.

    Hủy bỏ Quyết định Buộc thực hiện biện pháp bảo đảm số 05/2022/QĐ-BPBĐ ngày 12/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An. Cho bà Đặng Thị P được nhận lại toàn bộ số tiền là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) và tiền lãi phát sinh là tài sản bảo đảm theo tài khoản phong tỏa sổ tiết kiệm số AAD 0180266 số tài khoản 68010002195264 của bà Đặng Thị P tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ – Chi nhánh L2; Địa chỉ: Số A đường H, phường B, thành phố T, tỉnh Long An.

  3. Về chi phí tố tụng khác:

    • Về chi phí giám định là: 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). Do bà Hồ Thị Bích T là người yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định phải chịu (đã nộp xong). Do kết quả giám định chứng minh yêu cầu của bà T là không có căn cứ.

    • Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và thẩm định giá là: 9.000.000 đồng (chín triệu đồng). Bà Hồ Thị Bích T, anh Nguyễn Hoàng T1, em Nguyễn Thị Kim T2 do bà Hồ Thị Bích T là người đại diện hợp pháp theo pháp luật phải liên đới chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và thẩm định giá là 9.000.000 đồng (chín triệu đồng). Bà Đặng Thị P đã nộp xong. Bà Hồ Thị Bích T, anh Nguyễn Hoàng T1, em Nguyễn Thị Kim T2 do bà Hồ Thị Bích T là người đại diện hợp pháp theo pháp luật phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Đặng Thị P chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và thẩm định giá là: 9.000.000 đồng (chín triệu đồng) trong phạm vi di sản do ông Nguyễn Văn T3 để lại.

  4. Về án phí: 19.581.027 đồng (mười chín triệu, năm trăm tám mươi mốt nghìn, không trăm hai mươi bảy đồng). Bà Hồ Thị Bích T, anh Nguyễn Hoàng T1, em Nguyễn Thị Kim T2 do bà Hồ Thị Bích T là người đại diện hợp pháp theo pháp luật mỗi người phải có nghĩa vụ chịu 6.527.009 đồng (sáu triệu, năm trăm hai mươi bảy nghìn, không trăm lẻ chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong phạm vi di sản do ông Nguyễn Văn T3 để lại.

    Hồ Thị Bích T, em Nguyễn Thị Kim T2 do bà Hồ Thị Bích T là người đại diện hợp pháp theo pháp luật được xét miễn nộp tiền án phí Tòa án phải nộp theo đơn đề nghị miễn nộp tiền án phí Tòa án của bà Hồ Thị Bích T, em Nguyễn Thị Kim T2 thuộc trường hợp bà Hồ Thị Bích T là người khuyết tật, em Nguyễn Thị Kim T2 là trẻ em được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do đó, bà Hồ Thị Bích T, em Nguyễn Thị Kim T2 do bà Hồ Thị Bích T là người đại diện hợp pháp theo pháp luật không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

    Đặng Thị P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Do bà Đặng Thị P được xét miễn nộp tiền tạm ứng án phí Tòa án phải nộp theo đơn đề nghị miễn nộp tiền tạm ứng án phí Tòa án của bà Đặng Thị P thuộc trường hợp người cao tuổi được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nên không phải hoàn lại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền và thời hạn kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án đối với các đương sự.

Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật.

Ngày 19/5/2023, bị đơn bà Hồ Thị Bích T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận được với nhau.

Bị đơn bà Hồ Thị Bích T vẫn giữ yêu cầu kháng cáo, đồng thời bà T là người đại diện hợp pháp theo phát luật của con gái Nguyễn Thị Kim T2 không đồng ý trả số tiền 356.920.000 đồng cho bà Đặng Thị P vì ông Nguyễn Văn T3 chồng bà vay tiền của bà Phước khi nào và làm gì bà và các con hoàn toàn không biết.

Bị đơn anh Nguyễn Hoàng T1 thống nhất với ý kiến của bà Hồ Thị Bích T, không đồng ý cùng mẹ và em gái trả số tiền 356.920.000 đồng cho bà Đặng Thị P.

Luật sư Lê Văn L là Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Đặng Thị P tranh luận: Bà T và anh T1 trình bày không biết và không thừa nhận chữ ký của ông T3 trên 03 Giấy mượn tiền ông Thủ k vay tiền của bà Phước. Tuy nhiên, Kết luận giám định của P1 tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận chữ ký và chữ viết trên 03 giấy nợ bà Phước cung cấp là của ông Nguyễn Văn T3 viết và ký tên. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ y bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

Nguyên đơn bà Đặng Thị P đề nghị tòa án cấp phúc thẩm giữ y bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng và các đương sự tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn và Kết luận giám định số 5329/KL-KTHS ngày 07/12/2022 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận: Chữ ký đứng tên Thủ trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2, A3 so với chữ ký đứng tên Nguyễn Văn T3 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M7 là do cùng một người ký ra nên có đủ cơ sở xác định vào năm 2022 ông T3 có vay của bà Phước 03 lần, số tiền 356.920.000 đồng như bà Phước khởi kiện. Hiện nay ông T3 đã chết thì những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông T3 là bà T và 02 con chung là anh T1, em T2 có trách nhiệm trả tiền vốn gốc và tiền lãi cho bà Phước trong phạm vi di sản do ông T3 để lại là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó kháng cáo của bà T là không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Hồ Thị Bích T được thực hiện đúng quy định tại Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự và được gửi đến Tòa án trong thời hạn quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Đặng Thị P khởi kiện “Tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại” đối với bà Hồ Thị Bích T, anh Nguyễn Hoàng T1, em Nguyễn Thị Kim T2. Các bị đơn cư ngụ tại thành phố T nên Tòa án nhân dân thành phố Tân An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

[3] Về nội dung vụ án: Ngày 16/5/2022, bà Đặng Thị P khởi kiện bà Hồ Thị Bích T, anh Nguyễn Hoàng T1, cháu Nguyễn Thị Kim T2 (là vợ và con của ông Nguyễn Văn T3 đã chết ngày 09/5/2022) yêu cầu trả 356.920.000 đồng vốn vay ông Nguyễn Văn T3 đã vay theo các giấy vay tiền ngày 02/3/2022 âm lịch; ngày 13/3/2022 âm lịch; ngày 20/3/2022 âm lịch và tiền lãi từ ngày 15/5/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm với lãi suất 10%/năm. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị P, buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn T3 là bà Hồ Thị Bích T, anh Nguyễn Hoàng T1, cháu Nguyễn Thị Kim T2 (do bà Hồ Thị Bích T là người đại diện hợp pháp theo pháp luật) liên đới trả cho bà Đặng Thị P 356.920.000 đồng vốn vay và 34.700.554 đồng tiền lãi, tổng cộng là 391.620.554 đồng. Bà Hồ Thị Bích T kháng cáo.

[4] Xét kháng cáo của bà Hồ Thị Bích T, thấy rằng:

[4.1] Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do bên nguyên đơn cung cấp là 03 Giấy mượn tiền viết tay thể hiện: Vào ngày 02/3/2022 âm lịch (nhằm ngày 02/4/2022 dương lịch), ông Nguyễn Văn T3 vay của bà Đặng Thị P số tiền là 8.360.000 đồng, không lãi suất. Ngày 13/3/2022 âm lịch (nhằm ngày 13/4/2022 dương lịch), vay số tiền là 152.350.000 đồng, không lãi suất và ngày 20/3/2022 âm lịch (tức ngày 20/4/2022 dương lịch), vay số tiền là 196.210.000 đồng, không lãi suất; thời hạn trả nợ của 03 lần vay là ngày 09/4/2022 âm lịch (nhằm ngày 09/5/2022 dương lịch), tổng cộng 03 lần vay là 356.920.000 đồng. Ngày 09/5/2022 ông Nguyễn Văn T3 chết, khi còn sống ông T3 có tài sản là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 131, tờ bản đồ số 6, địa chỉ xã H, thành phố T, tỉnh Long An theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BM 607574 và thửa đất số 653, tờ bản đồ số 6 tại xã H, thành phố T, tỉnh Long An theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BM 607575 do ông Nguyễn Văn T3 đứng tên, được Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Long An cấp ngày 12/4/2013. Các di sản của ông T3 để lại hiện nay chưa được chia, do bà T (vợ ông T3) và 02 con là anh T1 và em T2 quản lý, sử dụng. Theo Chứng thư thẩm định giá số 70/08/03/2023/TĐG LA-BĐS ngày 08/3/2023 do Công ty Cổ phần T5 thẩm định giá thì tổng giá trị quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất tại ấp B, xã H, thành phố T, tỉnh Long An tại thời điểm tháng 3/2023 là 1.608.790.000 đồng, cụ thể: Quyền sử dụng đất có giá trị 1.185.089.000 đồng (trong đó quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 653 có giá trị 828.359.000 đồng, quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 131 có giá trị 356.730.000 đồng) và công trình xây dựng trên đất có giá trị 423.701.000 đồng.

[4.2] Bà Hồ Thị Bích T đồng thời là người đại diện hợp pháp theo pháp luật của em Nguyễn Thị Kim T2 và anh Nguyễn Hoàng T1 không đồng ý trả tiền vốn vay và tiền lãi cho bà Đặng Thị P vì khi ông T3 vay tiền của bà Phước thì vợ và các con của ông T3 không hay biết. Tuy nhiên, theo Kết luận giám định số 5329/KL-KTHS ngày 07/12/2022 của Phân viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Chữ ký đứng tên Thủ trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2, A3 so với chữ ký đứng tên Nguyễn Văn T3 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M7 là do cùng một người ký ra nên có đủ cơ sở xác định vào năm 2022 ông T3 có vay của bà Phước 03 lần, số tiền 356.920.000 đồng như bà Phước khởi kiện. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị P đối với bà Hồ Thị Bích T, anh Nguyễn Hoàng T1, em Nguyễn Thị Kim T2 do bà Hồ Thị Bích T là người đại diện hợp pháp theo pháp luật. Buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn T3 là bà Hồ Thị Bích T, anh Nguyễn Hoàng T1, cháu Nguyễn Thị Kim T2 do bà Hồ Thị Bích T là người đại diện hợp pháp theo pháp luật có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Đặng Thị P số tiền nợ gốc đã vay là 356.920.000 đồng (Ba trăm năm mươi sáu triệu, chín trăm hai mươi nghìn đồng) và tiền nợ lãi là 34.700.554 đồng (Ba mươi bốn triệu, bảy trăm nghìn, năm trăm năm mươi bốn đồng), tổng cộng là 391.620.554 đồng (Ba trăm chín mươi mốt triệu, sáu trăm hai mươi nghìn, năm trăm năm mươi bốn đồng) trong phạm vi di sản do ông Nguyễn Văn T3 để lại là có căn cứ. Do đó, kháng cáo của bà Hồ Thị Bích T là không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành.

[6] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm về quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp, đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Hồ Thị Bích T được miễn nộp án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Hồ Thị Bích T.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 49/2023/DS-ST ngày 05 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 68, 147, 235, 266, 267, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ các Điều 463, 466, 468, 470, 615, 617, 618, 623, 651, 658 Bộ luật Dân sự năm 2015. Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị P về việc “Tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” đối với bà Hồ Thị Bích T, anh Nguyễn Hoàng T1, cháu Nguyễn Thị Kim T2 do bà Hồ Thị Bích T là người đại diện hợp pháp theo pháp luật.

    Buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn T3 là bà Hồ Thị Bích T, anh Nguyễn Hoàng T1, cháu Nguyễn Thị Kim T2 (do bà Hồ Thị Bích T là người đại diện hợp pháp theo pháp luật) có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Đặng Thị P số tiền nợ gốc vay là 356.920.000 đồng (Ba trăm năm mươi sáu triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng) và tiền lãi là 34.700.554 đồng (Ba mươi bốn triệu bảy trăm nghìn, năm trăm năm mươi bốn đồng). Tổng cộng là 391.620.554 đồng (Ba trăm chín mươi mốt triệu, sáu trăm hai mươi nghìn, năm trăm năm mươi bốn đồng) trong phạm vi di sản do ông Nguyễn Văn T3 chết để lại.

    Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

  2. Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 08/2022/QĐ-BPKCTT ngày 13/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ”.

    Hủy bỏ Quyết định Buộc thực hiện biện pháp bảo đảm số 05/2022/QĐ-BPBĐ ngày 12/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An. Cho bà Đặng Thị P được nhận lại toàn bộ số tiền là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) và tiền lãi phát sinh là tài sản bảo đảm theo tài khoản phong tỏa sổ tiết kiệm số AAD 0180266 số tài khoản 68010002195264 của bà Đặng Thị P tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ – Chi nhánh L2; địa chỉ: Số A đường H, phường B, thành phố T, tỉnh Long An.

  3. Về chi phí tố tụng khác:

    1. Về chi phí giám định là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), bà Hồ Thị Bích T là người có yêu cầu nên đã tạm ứng nộp tiền. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bà Bích T phải chịu toàn bộ chi phí này.

    2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và thẩm định giá là 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng), bà Đặng Thị P đã tạm ứng nộp xong. Bà Hồ Thị Bích T, anh Nguyễn Hoàng T1, cháu Nguyễn Thị Kim T2 do bà Hồ Thị Bích T là người đại diện hợp pháp theo pháp luật phải liên đới chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và thẩm định giá là 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng) trả cho bà Đặng Thị P.

  4. Về án phí dân sự sơ thẩm là 19.581.027 đồng (Mười chín triệu, năm trăm tám mươi mốt nghìn, không trăm hai mươi bảy đồng). Bà Hồ Thị Bích T, anh Nguyễn Hoàng T1, cháu Nguyễn Thị Kim T2 do bà Hồ Thị Bích T là người đại diện hợp pháp theo pháp luật mỗi người phải có nghĩa vụ chịu 6.527.009 đồng (Sáu triệu, năm trăm hai mươi bảy nghìn, không trăm lẻ chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong phạm vi di sản do ông Nguyễn Văn T3 chết để lại.

    1. Hồ Thị Bích T được xét miễn nộp tiền án phí theo đơn đề nghị miễn nộp tiền án phí của bà Hồ Thị Bích T (là người khuyết tật). Cháu Nguyễn Thị Kim T2 (do bà Hồ Thị Bích T là người đại diện hợp pháp theo pháp luật) là trẻ em nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    2. Đặng Thị P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Do bà Đặng Thị P được xét miễn nộp tiền tạm ứng án phí Tòa án phải nộp theo đơn đề nghị miễn nộp tiền tạm ứng án phí Tòa án của bà Đặng Thị P (thuộc trường hợp người cao tuổi được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án), nên không phải hoàn lại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm.

  5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Hồ Thị Bích T được miễn nộp án phí.

  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại Tp. HCM;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND thành phố Tân An;
  • - Chi cục THADS thành phố Tân An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Ngọc Yến

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Tấn Quốc

Trần Trọng Nhân

Đinh Thị Ngọc Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 307/2023/DS-PT ngày 24/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người khác để lại

  • Số bản án: 307/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người khác để lại
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Thị P "Tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại" Hồ Thị Bích T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger