Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HOÁ

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 306/2023/HSST

Ngày: 22/8/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - TỈNH THANH HOÁ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Long.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Tám

Bà Nguyễn Ngọc Dũng

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh– Thư ký tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 326/2023/TLST-HS ngày 25/7/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 349/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị T, Sinh năm: 1969 tại: Thanh Hóa; Giới tính: Nữ; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Số nhà D D, phường N, TP .;Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Đình T1 (đã chết); Con bà: Trịnh Thị C; Sinh năm: 1936; Gia đình có 06 anh, chị em, bị cáo là con thứ 4; Chồng: Vũ Quang M; Sinh năm: 1968; Con: có 02 con, lớn sinh năm 1993; nhỏ sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự: Không ; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/6/2023, đến ngày 15/6/2023 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T.

Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mục đích mua bán ma túy để kiếm lời, nên trưa ngày 05/6/2023 Nguyễn Thị T đến khu vực Cầu T, phường Đ, thành phố T tìm mua của một người đàn ông khoảng 30 tuổi, tên H (không rõ địa chỉ, nhân thân, lai lịch) 02 gói Heroine với giá 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Sau khi mua được ma túy, T đem về nhà cất giấu. Đến khoảng 20h 00' ngày 05/6/2023, Hà Quang H1, sinh năm 1977 ở 0 N, phường Đ, thành phố T gọi điện thoại cho T hỏi mua 01 gói Heroine với giá 500.000 đồng. Sau đó, T lấy một phần Heroine vừa mua được đem đến bán cho H1 tại khu vực trước khách sạn T2, đường L, phường Đ, thành phố T. Sau khi mua được ma túy, H1 mang về nhà cất giấu đến khoảng 12h00' ngày 06/6/2023, H1 đem ma túy đến khu vực mặt bằng H, phường N, thành phố T để sử dụng, khi vừa sử dụng xong thì bị Công an kiểm tra phát hiện, thu giữ ở dưới mặt đất gần vị trí của H1 đứng có 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt xém và 01 bật lửa ga màu đỏ. H1 khai đồ vật Công an thu giữ là dụng cụ H1 mới sử dụng ma túy loại Heroine bằng hình thức hút.

Tại phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Hà Quang H1: Dương tính với ma túy loại Heroine.

Sau khi nghe tin H1 bị bắt, Nguyễn Thị T đã đến Công an thành phố T đầu thú và khai báo về hành vi phạm tội của mình và tự giác nộp 01 gói giấy (dạng giấy ăn) màu trắng, kích thước khoảng (2x4)cm, bên trong là một túi nilon màu trắng, viền đỏ, kích thước (3x5) cm bên trong túi có chứa chất cục bột màu trắng và 01 điện thoại di động Nokia màu xanh số imei 354185100501619 bên trong gắn thẻ sim 0338571689.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị T ở số nhà D D, phường N, thành phố T thu giữ: 01 gói giấy (dạng giấy ăn) màu trắng, kích thước khoảng (2x3)cm bên trong chứa 01 gói nilon màu trắng viền đỏ kích thước khoảng (3x5)cm bên trong chứa chất cục bột màu trắng. T khai đây là gói Heroine Tú cất giấu để bán kiếm lời .

Tại bản kết luận giám định số 2204/KL- KTHS ngày 13/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh T giám định kết luận:

  • - Chất cục bột màu trắng của phong bì niêm phong mặt trước có ghi “Đầu thú” gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 4,074g loại Heroine.
  • - Chất cục bột màu trắng của phong bì niêm phong mặt trước có ghi “Khám xét” gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 3,315g loại Heroine

Tổng khối lượng ma túy T tàng trữ nhằm mục đích bán kiếm lời là 7,389g loại Heroine.

Vật chứng thu giữ xử lý: Toàn bộ số ma túy Heroine còn lại sau giám định; 01 01 điện thoại di động Nokia màu xanh số imei 354185100501619 bên trong gắn thẻ sim 0338571689 ; 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt xém và 01 bật lửa ga được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự TP . để xử lý theo quy định của pháp luật

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hà Quang H1, Cơ quan điều tra đã chuyển Công an thành phố T Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ – CP của Chính phủ .

Đối với người đàn ông tên H đã bán ma túy cho T tại khu vực Cầu T, phường Đ, do T không biết địa chỉ của người này. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã rà soát tại khu vực phường Đ nhưng không có ai tên H như T cung cấp, nên không có căn cứ để xử lý .

Tại bản Cáo trạng số 270/CTr-VKS ngày 24 tháng 7 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 BLHS.

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
  • - Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết quả giám định số ma túy trên.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 8 năm đến 8 năm 6 tháng tù.
  • Về tang vật: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt xém và 01 bật lửa ga; Tịch thu sung quỹ chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh kèm sim ; Truy thu của bị cáo T số tiền 500.000 đồng do phạm tội mà có. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
  • - Bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, Lời nói sau cùng đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra và các vật chứng thu được trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ và cơ sở để kết luận:

Vào khoảng 20 giờ ngày 06/6/2023, Tại khu vực trước khách sạn T2, đường L, phường Đ, TP T Nguyễn Thị T đã có hành vi bán 01 gói Heroine cho Hà Quang H1 và cất giấu 7,389g Heroine để bán nhằm mục đích kiếm lời.

Bị cáo nhận ý thức rõ việc “Mua bán trái phép chất chất ma túy” là vi phạm pháp luật, nhưng đã thực hiện hành vi phạm tội như trên. Khi phạm tội bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 BLHS. Ý thức chủ quan và động cơ, mục đích của bị cáo là mua ma túy nêu trên nhằm mục đích bán kiếm lời nên thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

Vì vậy hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 như Cáo trạng của Viện Kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Tính chất vụ án: Vụ án xảy ra là đặc biệt nghiêm trọng, bởi lẽ ma tuý là hiểm hoạ của cả nhân loại và của mỗi một gia đình, nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm phát sinh như trộm cắp, cướp của, giết người..., gây ảnh hưởng xấu trực tiếp đến trật tự xã hội. Hành vi của bị cáo đã làm mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng cho nhân dân. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm.

[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo mặc dù chưa có tiền án, tiền sự nhưng với tính chất nghiêm trọng của loại tội phạm về ma túy thì việc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, có bố mẹ là người có công với cách mạng, đã ra đầu thú. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cần căn cứ vào điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy sự khoan hồng của pháp luật mà cải tạo, sớm trở thành người công dân tốt.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có điều kiện kinh tế, không có thu nhập ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng và các biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 46; Khoản 1 Điều 47 BLHS, khoản 1, 2 Điều 106 BLTTHS:

Xét số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong bằng phong bì của Phòng K - Công an tỉnh T, 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy xém, 01 bật lửa ga . Ma túy là chất nhà nước cấm lưu hành, sử dụng và 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy xém, 01 bật lửa ga không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với chiếc điện thoại di động N1 màu xanh số imei 354185100501619 kèm sim của Nguyễn Thị T. Đây là chiếc điện thoại T sử dụng vào việc mua bán ma túy tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Đối với số tiền 500.000 đồng bán được ma túy cho H1 là số tiền do phạm tội mà có nên truy thu sung công quỹ nhà nước

Các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo Biên bản giao nhận vật chứng số 234/2023/THA ngày 21/8/2023

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTV Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1,2 Điều 51 ; Điều 38; Điều 46; khoản 1 Điều 47 BLHS; Khoản 1, khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 332, Điều 333 BLTTHS; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về án, phí lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy"

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị T 8 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 06/6/2023.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy xém, 01 bật lửa ga không còn giá trị sử dụng và toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong bằng phong bì của Phòng K - Công an tỉnh T.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước chiếc điện thoại di động N1 màu xanh số imei 354185100501619 kèm sim của bị cáo Nguyễn Thị T.

Các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 234/2023/THA ngày 21/8/2023

Biện pháp tư pháp: Truy thu số tiền 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng) do phạm tội mà có của bị cáo Nguyễn Thị T để nộp ngân sách nhà nước

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án đối với khoản tiền án phí theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự .

Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND, TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND TP. Thanh Hóa;
  • - Công an T;
  • - Thi hành án HS, D;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Thị L

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 306/2023/HSST ngày 22/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ - TỈNH THANH HOÁ về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 306/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ - TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251 BLDS xử phạt bị cáo T 8 năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger