TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 306/2024/HS-ST Ngày: 29/11/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc - |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Huệ
- Các hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Quỳnh
- Ông Nguyễn Minh Tú
- - Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Vân - Thư ký của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 312/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Duy M, sinh năm 1977; Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn Y, xã K, huyện H, Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh ; Giới tính : Nam ; Tôn giáo : Không ; Quốc tịch : Việt Nam ; Con ông: Nguyễn Duy G (chết) và bà: Nguyễn Thị M1 (chết); Vợ: Đình Thị D, có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bắt tạm giam: 28/6/2024 (có mặt). Bị hại: 1/ Công ty Cổ phần Q; Địa chỉ: Số B phố T, phường M, quận B, Hà Nội: Đại diện theo uỷ quyền: Chị Phạm Thị Thanh H, sinh năm 1993; Trú tại: Số E, M, quận N, Hà Nội (vắng mặt).
2/Công ty TNHH truyền hình số T1; Địa chỉ: Khu đô thị H, tổ C, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La; Đại diện theo pháp luật: Anh Nguyễn Hồng S, sinh năm 1986; Trú tại: Tổ C, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 23/02/2024, Cơ quan CSĐT - Công an quận B nhận được đơn của Công ty Cổ phần Q (viết tắt là Công ty Q) có địa chỉ trụ sở: Số B phố T, phường M, quận B, thành phố Hà Nội, tố giác Nguyễn Duy M (Năm sinh: 1977, Nơi thường trú: Thôn Y, xã K, huyện H, thành phố Hà Nội) là Trưởng kinh doanh khu vực ngoại tỉnh tại Công ty Q có hành vi chiếm đoạt tài sản của công ty.
Quá trình điều tra xác minh xác định Nguyễn Duy M có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là các bình nước nóng và điều hoà của Công ty Q thông qua việc lấy danh nghĩa của các Nhà phân phối (viết tắt là NPP) để đặt hàng rồi bán hàng ra bên ngoài lấy tiền tiêu xài cá nhân. Do đó, ngày 21/6/2024, cơ quan CSĐT - Công an quận B đã ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với M.
Vật chứng thu giữ của Nguyễn Duy M:
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy Note 10 màu đen đã qua sử dụng.
- - Ngoài ra, Cơ quan điều tra đã thu giữ các tài liệu liên quan của Công ty Q và các nhà phân phối gồm:
- - Sao kê tài khoản B1 số 27910000459515 mang tên Nguyên Duy M2 xác định M2 đã nhận được tiền từ Nhà phân phối Truyền hình số T.
- - Quy trình bán hàng, thu hồi công nợ kênh nhà phân phối ngoại tỉnh.
- - Biên bản làm việc ngày 21/12/2023 về việc làm rõ nguyên nhân chênh lệch công nợ với các nhà phân phối giữa Nguyễn Duy M và công ty Q.
- - Biên bản đối chiếu công nợ giữa Công ty Q, NPP Truyền hình số Q, NPP T, NPP H, NPP Thuật Huyền, NPP Thuỷ Cảnh và NPP Thắng M3.
- - Đơn đặt hàng của Nguyễn Duy M đặt hàng cho N1, NPP H, NPP Thuật Huyền, NPP Thủy Cảnh và NPP Thắng M3.- Giấy xác nhận giao hàng và xuất hoá đơn giá trị gia tăng của Công ty Cổ phần Q cho N1, NPP H, NPP Thuật Huyền, NPP Thủy Cảnh và NPP Thắng M3 (M đã ký vào các giấy xác nhận giao hàng).
Tại Kết luận định giá tài sản số 775/KL- HĐĐGTS ngày 03/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B kết luận :
| TT | Tên tài sản cần định giá | Thời điểm định giá | Kết quả định giá |
|---|---|---|---|
| 1 | 27 bình nước nóng SWAT ngang 20L, 02 bình nước nóng vuông 15L và 01 bình nước nóng vuông 20L, mang thương hiệu Sơn Hà, chưa qua sử dụng vào thời điểm tháng 12/2021, có hóa đơn | Tháng 12/2021 | 41.220.000 đồng (Bằng chữ: Bốn mươi mốt triệu, hai trăm hai mươi nghìn đồng) |
| 2 | 04 bình nước nóng SWAT ngang 30L mang thương hiệu Sơn Hà, chưa qua sử dụng vào thời điểm tháng 1/2022, có hóa đơn | Tháng 1/2022 | 5.920.000 đồng (Bằng chữ: Năm triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng ) |
| 3 | 05 bình nước nóng SWAT ngang 20L mang thương hiệu Sơn Hà chưa qua sử dụng vào thời điểm tháng 02/2022, có hóa đơn | Tháng 02/2022 | 7.250.000 đồng (Bằng chữ: Bảy triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) |
| 4 | 02 bình nước nóng SWAT ngang 20L mang thương hiệu Sơn Hà chưa qua sử dụng vào thời điểm tháng 05/2022, có hoá đơn | Tháng 05/2022 | 2.900.000 đồng (Bằng chữ: Hai triệu chín trăm nghìn đồng) |
| 5 | 17 bình nước nóng SWAT ngang 20L mang thương hiệu Sơn Hà chưa qua sử dụng vào thời điểm tháng 06/2022, có hóa đơn | Tháng 06/2022 | 24.650.000 đồng (Bằng chữ: Hai mươi tư triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) |
| 6 | 50 bình nước nóng SWAT vuông 20L và 50 bình nước nóng SWAT ngang 20L mang thương hiệu Sơn Hà chưa qua sử dụng vào thời điểm tháng 02/2023, có hóa đơn | Tháng 02/2023 | 145.000.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm bốn mươi lăm triệu đồng) |
| 7 | 01 bình nước nóng SWAT vuông 30L và 01 bình nước nóng SWAT ngang 20L mang thương hiệu Sơn Hà chưa qua sử dụng vào thời điểm tháng 10/2023, có hóa đơn | Tháng 10/2023 | 3.020.000 đồng (Bằng chữ: Ba triệu không trăm hai mươi nghìn đồng) |
| 8 | 04 điều hòa 1 chiều tiêu chuẩn Gas R32 9000BTU mang thương hiệu Sơn Hà chưa qua sử dụng vào thời điêm tháng 4/2023, có hóa đơn | Tháng 04/2023 | 15.348.000 đồng (Bằng chữ: Mười lăm triệu ba trăm bốn mươi tám nghìn đồng |
| 9 | 10 điều hòa 1 chiều tiêu chuẩn Gas R32 9000BTU mang thương hiệu Sơn Hà chưa qua sử dụng vào thời điểm tháng 5/2023, có hóa đơn | Tháng 05/2023 | 56.745.000 đồng (Bằng chữ: Năm mươi sáu triệu, bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) |
| 10 | 05 điều hòa 1 chiều tiêu chuẩn Gas R32 18000BTU, 1 điều hòa 1 chiều tiêu chuẩn Gas R32 12000BTU và 1 điều hòa 1 chiều tiêu chuẩn Gas R32 9000BTU mang thương hiệu Sơn Hà chưa qua sử dụng vào thời điểm tháng 07/2023, có hóa đơn | Tháng 07/2023 | 51.480.000 đồng (Bằng chữ: Năm mươi mốt triệu, bốn trăm tám mươi nghìn đồng) |
Tổng trị giá tài sản định giá là 353.533.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Duy M là trưởng kinh doanh khu vực ngoại tỉnh của Công ty cổ phần Q từ ngày 01/1/12021 theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn số 884/2021/HĐLĐ, Nguyễn Duy M được giao nhiệm vụ thực hiện phát triển kinh doanh phẩm, tiếp nhận, xử lý đơn hàng theo dõi đối chiếu đôn đốc đối với các Nhà phân phối ngoại tỉnh. Mọi đơn hàng của các NPP muốn đặt mua của công ty Q đều phải thông qua M để M làm đơn đặt hàng với công ty, sau đó công ty sẽ cử người giao hàng. Theo quy định của công ty thì các NPP thanh toán tiền cho công ty Q1 hình thức chuyển khoản vào tài khoản của công ty. M chỉ là người theo dõi, đôn đốc để các NPP thanh toán tiền cho công ty chứ không được phép thu tiền. Quá trình làm việc từ năm 2021 đến năm 2023 do cần tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân nên M đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của các nhà NPP ngoại tỉnh và hàng hoá của ty Cổ phần Q2 cụ thể:
- NPP Truyền hình số Q (địa chỉ: Khu đô thị H, Tổ C, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La) có nợ công ty Q số tiền 120.000.000 đồng. Theo quy định thì tiền NPP nợ sẽ phải trả vào tài khoản của công ty Q. Tuy nhiên, do M nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của NPP Truyền hình số Q nên M đã yêu cầu anh Nguyễn Hồng S (Sinh năm: 1986, HKTT: Xóm N, xã S, huyện H, thành phố Hà Nội) - Giám đốc NPP Truyền hình số Q chuyển số tiền nợ vào tài khoản cá nhân của M (thuộc ngân hàng B1, Số tài khoản: 27910000459515) để M nộp tiền về công ty, A S tin tưởng nên đã chuyển tiền cho M 5 lần gồm:
- - Ngày 15/08/2023 anh S sử dụng tài khoản số 41110000490031 tại ngân hàng B1 chuyển khoản số tiền là 54.000.000 đồng vào tài khoản của M.
- - Ngày 19/08/2023 anh S sử dụng tài khoản số 41110000490031 tại ngân hàng B1 chuyển khoản số tiền là 16.000.000 đồng vào tài khoản của M.
- - Ngày 24/08/2023 anh S sử dụng số tài khoản 983488888 tại Ngân hàng A chuyển khoản số tiền số tiền là 20.000.000 đồng vào tài khoản của M.
- - Ngày 28/8/2023 anh S sử dụng số tài khoản 983488888 tại Ngân hàng A chuyển khoản số tiền số tiền là 10.000.000 đồng vào tài khoản của M.
- - Ngày 19/9/2023 anh S sử dụng số tài khoản 983488888 tại Ngân hàng A chuyển khoản số tiền số tiền là 20.000.000 đồng vào tài khoản của M.
Sau khi chiếm đoạt được số tiền trên M đã sử dụng trả nợ và chi tiêu cá nhân hết.
- Từ ngày 01/12/2021 đến ngày 30/06/2022, M sử dụng mã của N1 (địa chỉ: Số nhà G, Tổ H, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La) đặt nhiều đơn hàng là bình nước nóng Swat các loại của công ty Q với tổng trị giá 81.940.000 đồng rồi chiếm đoạt để bán ra bên ngoài, sử dụng tiền bán được chi tiêu cá nhân hết. Cụ thể:
- - Ngày 20/12/2021, M sử dụng mã NPP Thanh Ngọc để đặt đơn hàng bình nước nóng SWAT gồm: 27 bình ngang 20L, 02 bình vuông 15L, 01 bình vuông 20L.
- - Ngày 24/01/2022, M sử dụng mã NPP Thanh Ngọc để đặt đơn hàng 4 bình nước nóng SWAT ngang 30L.
- - Ngày 18/02/2022, M sử dụng mã NPP Thanh Ngọc để đặt đơn hàng 5 bình nước nóng SWAT ngang 20L.
- - Ngày 16/05/2022, M sử dụng mã NPP Thanh Ngọc để đặt đơn hàng 2 bình nước nóng SWAT ngang 20L.
- - Ngày 27/06/2022, M sử dụng mã NPP Thanh Ngọc để đặt đơn hàng 17 bình nước nóng SWAT ngang 20L.
- Tháng 02/2023 M đã tự ý sử dụng mã của N2 (địa chỉ: Số nhà H, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên) để đặt đơn hàng 50 bình nước nóng vuông 20 lít SWAT và 50 bình nước nóng ngang 20 lít SWAT với tổng trị giá 145.000.000 đồng. Sau đó, M giao số hàng này cho N3 (địa chỉ: xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên) và thu 140.000.000 đồng tiền mặt, sử dụng chi tiêu cá nhân hết, cụ thể:
- - Ngày 23/02/2023, M đặt thêm hàng vào đơn của N2 gồm 30 bình nước nóng SWAT vuông 20L và 40 bình nước nóng SWAT ngang 20L.
- - Ngày 25/02/2023, M đặt thêm hàng vào đơn của N2 gồm 20 bình nước nóng SWAT vuông 20L và 10 bình nước nóng SWAT ngang 20L
- Ngày 27/4/2023 và ngày 30/5/2023 M sử dụng mã của N4 (địa chỉ: Số A đường N, TT G, huyện G, tỉnh Bắc Ninh) để đặt nhiều đơn hàng điều hòa với tổng trị giá 72.093.000 đồng rồi chiếm đoạt để bán ra bên ngoài, tiền bán được M sử dụng để chi tiêu cá nhân hết, cụ thể:
- - Ngày 27/04/2023, M sử dụng mã NPP Thuật Huyền để đặt đơn hàng 04 điều hòa 9000BTU một chiều R32.
- - Ngày 30/05/2023, M sử dụng mã NPP Thuật Huyền để đặt đơn hàng 10 điều hòa 9000BTU một chiều R32.
- Từ ngày 09/7/2023 đến ngày 28/7/2023, M sử dụng mã của N3 (địa chỉ: xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên) để đặt nhiều đơn hàng là điều hòa với tổng trị giá 51.480.000 đồng rồi chiếm đoạt để bán ra bên ngoài, tiền bán được M sử dụng để chi tiêu cá nhân hết, cụ thể:
- - Ngày 09/07/2023, M sử dụng mã NPP Thủy Cảnh để đặt đơn hàng 04 điều hòa 18000B TU một chiều R32 .
- - Ngày 25/07/2023, M sử dụng mã NPP Thủy Cảnh để đặt đơn hàng 01 điều hòa 9000BTU một chiều R32, 01 đơn hàng điều hòa 12000B TU một chiều R32 và 01 đơn hàng 01 điều hòa 18000BTU một chiều R32.
- Tháng 10/2023 M đã tự ý sử dụng mã của NPP Thắng M3 (địa chỉ: Số B đường T, phường T, Thành phố L, tỉnh Lạng Sơn) để đặt đơn hàng 2 bình nước nóng tổng trị giá 3.020.000 đồng rồi chiếm đoạt để bán ra bên ngoài, tiền bán được M sử dụng để chi tiêu cá nhân hết, cụ thể:
- - Ngày 10/10/2023, M sử dụng mã NPP Thắng Mùa để đặt đơn hàng 1 bình nước nóng SWAT vuông 30L
- - Ngày 11/10/2023, M sử dụng mã NPP Thắng Mùa để đặt đơn hàng 1 bình nước nóng SWAT ngang 20L
Đến khoảng đầu tháng 11/2023 M nghỉ việc ở Công ty Q và thực hiện bàn giao tuyến NPP phụ trách cho nhân sự khác, Công ty đã tiến hành kiểm tra, đối chiếu sổ sách, đối chiếu công nợ của các NPP và phát hiện có sự chênh lệch công nợ trên hệ thống so với thực tế. M đã thừa nhận toàn bộ nội dung sự việc như trên.
Đối với số hàng hóa chiếm đoạt M sẽ đến nhà máy của Công ty Q để nhận hàng mang đi bán hoặc chỉ định người mua đến lấy hàng, sau khi lấy hàng họ sẽ trả tiền cho M. M chỉ nhớ bán hàng hóa chiếm đoạt cho NPP Thủy C, anh Hoàng Chí T (Sinh năm: 1977, Nơi thường trú: xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam) và chị Nguyễn Thị H1 (Sinh năm: 1988, nơi thường trú: xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh) nhưng không nhớ số lượng cụ thể. Ngoài ra M không nhớ đã bán cho ai nữa.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Duy M khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên và khai do cần tiền chi tiêu cá nhân nên M đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của NPP Truyền hình số Tây B và chiếm đoạt hàng hoá của công ty Q. Nguyễn Duy M không nói cho ai biết về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của mình
Công ty Q trình bày nội dung vụ việc như đã nêu trên. Nhà phân phối Truyền hình số T trình bày thông thường khi NPP nhận hàng của công ty Q thì sẽ thanh toán bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản công ty Q nhưng khi M giao hàng có yêu cầu NPP chuyển tiền vào tài khoản của M nên NPP đã chuyển tiền cho M 05 lần với tổng số tiền là 120.000.000 đồng. M đã đứng ra nhận trách nhiệm trả số tiền này cho công ty Q.
Công Như vậy Nguyễn Duy M phải chịu trách nhiệm về hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 120.000.000 đồng của NPP truyền hình số Tây B và hành vi lừa đảo chiếm đoạt hàng hoá của công ty cổ phần Q có trị giá 353.533.000 đồng.
Về dân sự: Nguyễn Duy M đã bồi thường cho công ty Q 496.946.001 đồng (trong đó có 120.000.000 đồng của N phân phối Truyền hình số T). Công ty Q không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự. Công ty Q có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Duy M.
Viện kiểm sát chuyển vật chứng đến Cơ quan thi hành án để xử lý theo quy định của pháp luật.
Bản cáo trạng số 310/CT-VKS ngày 14/11/2024 Viện kiểm sát Quận B truy tố Nguyễn Duy M phạm tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm trong phần luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Duy M theo Điểm a Khoản 3 Điều 174 bộ luật hình sự như cáo trạng số 310/CT-VKS ngày 14/11/2024 và đề nghị áp dụng Điểm a Khoản 3 Điều 174; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; Xử phạt: Nguyễn Duy M từ 9 năm đến 9 năm 6 tháng tù. Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy Note 10 màu đen đã qua sử dụng. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Duy M đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận quận Bắc Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với các biên bản, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được.
[3] Những chứng cứ trên đây đã có đủ cơ sở xác định: Từ năm 2021 đến năm 2023, Nguyễn Duy M là Trưởng kinh doanh khu vực ngoại tỉnh của Công ty Cổ phần Q, công việc của M chỉ là người tiếp nhận đơn hàng, theo dõi, đôn đốc để các Nhà phân phối thanh toán tiền cho công ty Q chứ không được phép thu tiền. Do cần tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân nên M đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản, M sử dụng mã của các NPP Huy Ninh, NPP T, NPP Thắng M3, NPP T, NPP Thuật Huyền đặt nhiều đơn hàng bình nước nóng và điều hoà trị giá 353.533.000 đồng (mục đích để công ty Q nghĩ là có đơn hàng thật) rồi chiếm đoạt hàng hoá bán lấy tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân, đồng thời M đưa ra những thông tin gian dối để NPP Truyền hình số Tây Bắc tin tưởng chuyển tiền công nợ của công ty Q cho M rồi chiếm đoạt số tiền 120.000.000 đồng. Tổng số tiền M lừa đảo chiếm đoạt là 473.533.000 đồng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Duy M phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại điểm tại Điểm a Khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là trưởng kinh doanh khu vực ngoại tỉnh của Công ty cổ phần Q, do cần tiền chi tiêu cá nhân bị cáo nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của công ty cổ phần Q dưới hình thức tự đặt hàng cho các nhà phân phối rồi chiếm đoạt hàng hoá bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến tài sản được luật hình bảo vệ mà còn gây mất trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, phải xử lý nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội nhiều lần.
- - Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu, hoàn cảnh bị cáo khó khăn. Bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền cho bị hại, Công ty cổ phần Q có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điểm s,b Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
[6] Về dân sự: Công ty cổ phần Q, Công ty TNHH Q đã nhận được tiền bồi thường và không có yêu cầu gì khác nên Toà không xem xét giải quyết.
[7] Về vật chứng: Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy Note 10 màu đen đã qua sử dụng bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội.
[7] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điểm a Khoản 3 Điều 174; Điểm s,b Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn,giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy M phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy M 9 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2024.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy Note 10 màu đen đã qua sử dụng chất lượng không kiểm tra. Hiện đang thu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm theo biên bản số 54/25 ngày 21/11/2024.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Minh Huệ |
Bản án số 306/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 306/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyen Duy M - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
