Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 306/2024/HS-ST

Ngày: 06 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thanh Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Ngọc Phương;
  2. Bà Nguyễn Thị Túy Phượng.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 328/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 373/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn H, sinh năm 2000 tại tỉnh Cà Mau; nơi thường trú: Ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau; nơi tạm trú: H khu phố C, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1981; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/3/2024 cho đến nay.
  2. Trần Hoài L1, sinh năm: 2003 tại tỉnh Cà Mau; nơi thường trú: Ấp Thị Tường B, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh T, sinh năm: 1974 và bà Lê Tú T1, sinh năm: 1979; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/3/2024 cho đến nay.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  1. Ông Cao Quốc K, sinh năm 1999; địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt
  2. Ông Lê Văn D, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt

· Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Công K1, sinh năm 1984; địa chỉ: Ấp S, xã X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt
  2. Ông Lê Hàm R, sinh năm 1957; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Vắng mặt
  3. Ông Lê Hùng H2, sinh năm 1994; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 15/3/2024, Trần Hoài L1 và Cao Văn T2 có mặt ở phòng trọ của Nguyễn Văn H tại cơ sở trọ T3 thuộc khu phố C, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, do không có tiền tiêu sài nên H rủ L1 và T2 đi trộm cắp tài sản của người dân đem bán lấy tiền chia nhau tiêu xài thì L1 và T2 đồng ý. Để thực hiện ý định, khoảng 02 giờ 00 phút ngày 16/3/2024, H, L1 và T2 đi bộ từ phòng trọ của H đến khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để tìm và lấy trộm tài sản của người dân. Khi đến trước cơ sở trọ địa chỉ: 2 khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương thấy cửa cổng không có khoá, H và L1 đứng ở bên ngoài cảnh giới, T2 đi vào trong dãy trọ tìm tài sản thì thấy trước phòng trọ số 31 có dựng 01 xe mô tô kiểu dáng Dream, màu nâu, biển số 60S3-1861 của ông Cao Quốc K, không có người trông giữ, T2 đẩy xe mô tô trên ra ngoài. Sau đó cả ba thống nhất tiếp tục đi tìm tài sản của người dân để lấy trộm. T2 điều khiển xe mô tô trộm được chở L1, còn H đi bộ. Khi đến trước cửa hàng mua bán xe máy cũ T tại địa chỉ: 2, đường T, khu phố H, phường T thì phát hiện trong sân cửa hàng có dựng 01 xe mô tô kiểu dáng Wave, màu sơn: xanh, biển số: 63S7-2145 của ông Lê Văn D không có người trông giữ, cửa cổng không đóng, T2 và L1 đứng ở bên ngoài cảnh giới, H lén lút đi vào đẩy xe mô tô biển số: 63S7-2145 ra ngoài đường. Do xe mô tô biển số: 63S7-2145 không có xăng nên H ngồi lên cầm lái để cho T2 điều khiển xe mô tô biển số 60S3-1861 chở L1 và dùng chân đẩy xe đi về hướng phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương để tìm chỗ bán. Đến khoảng 03 giờ 00 phút cùng ngày 16/3/2024, khi cả 03 đi đến đoạn đường M - T thuộc khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì bị tổ tuần tra Công an phường T đang tuần tra tiến hành kiểm tra hành chính. Trong lúc kiểm tra, H, L1 và T2 đã khai nhận hành vi lén lút chiếm đoạt 02 xe mô tô như trên. Công an phường T đã tiến hành kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc và chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu: NAKASEI, màu sơn: nâu, số khung: TT-001212, số máy: FMGB-001212, biển số: 60S3-1861; 01 xe mô tô nhãn hiệu: MAJESTY, màu sơn: xanh, số khung: WCH022TT*150319, số máy: P52FMH*150319, biển số: 63S7-2145.

Tại biên bản họp và kết luận định giá tài sản ngày 22/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu: NAKASEI, màu sơn: nâu, số khung: TT-001212, số máy: FMGB-001212, biển số: 60S3-1861, đăng ký tháng 10/2004 có giá trị hiện tại là 2.500.000 đồng; chiếc xe mô tô nhãn hiệu: MAJESTY, màu sơn: xanh, số khung: WCH022TT*150319, số máy: P52FMH*150319, biển số: 63S7-2145, đăng ký tháng 12/2004 có giá trị hiện tại là 2.400.000 đồng. Tổng cộng là 4.900.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 298/CT-VKS-TA ngày 07 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn H cùng đồng phạm về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt:

  • + Bị cáo Nguyễn Văn H từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù;
  • + Bị cáo Trần Hoài L1 từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù.

Đối với Cao Văn T2 có hành vi cùng với Nguyễn Văn H và Trần Hoài L1 trộm cắp xe mô tô biển số 60S3-1861 và xe mô tô biển số biển số: 63S7-2145. Quá trình điều tra xác định, T2 sinh ngày 07/9/2008, đăng ký khai sinh ngày 05/12/2011 (đăng ký quá hạn). Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T chưa xác định được độ tuổi thật của T2 và hiện nay chưa xác định được T2 ở đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T có quyết định tách vụ án tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không có yêu cầu bồi thường gì nên không đề nghị xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu: NAKASEI, màu sơn: nâu, số khung: TT-001212, số máy: FMGB-001212, biển số: 60S3-1861, do ông Nguyễn Công K1 đứng tên giấy đăng ký xe. Ông Cao Quốc K khai mua xe mô tô trên của ông Nguyễn Công K1 vào khoảng tháng 10/2023 nhưng không làm hợp đồng mua bán. Quá trình điều tra xác định ông K1 không có mặt tại địa phương, không biết ông K1 đang ở đâu nên chưa làm việc được với ông K1, chưa xác định được chủ sở hữu xe nên cần giao xe mô tô trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xử lý theo quy định.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu: MAJESTY, màu sơn: xanh, số khung: WCH022TT*150319, số máy: P52FMH*150319, biển số: 63S7-2145, do ông Lê Hàm R đứng tên giấy đăng ký xe. Quá trình điều tra xác định, năm 2019, ông R đã tặng chiếc xe trên cho con trai ruột là ông Lê Hùng H2, sinh năm 1994, cùng hộ khẩu thường trú với ông R. Khoảng đầu năm 2024, ông H2 đã bán xe mô tô trên cho ông Lê Văn D nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại xe mô tô trên cho ông D là có căn cứ.

- Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng các bị cáo thừa nhận bản thân biết lỗi và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm trở về lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, biên bản giao nhận Cáo trạng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử các bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng như Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên; của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Căn cứ lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Văn H và Trần Hoài L1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố các bị cáo trước Tòa. Lời nhận tội của các bị cáo trong quá trình điều tra phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 02 giờ 00 phút đến 03 giờ 00 phút ngày 16/3/2024, tại khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Văn H, Trần Hoài L1 cùng Cao Văn T2 đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu: NAKASEI, màu sơn: nâu, số khung: TT-001212, số máy: FMGB-001212, biển số: 60S3-1861 của ông Cao Quốc K và 01 xe mô tô nhãn hiệu: MAJESTY, màu sơn: xanh, số khung: WCH022TT*150319, số máy: P52FMH*150319, biển số: 63S7-2145 của ông Lê Văn D. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 4.900.000 đồng (Bốn triệu chín trăm nghìn đồng). Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo Nguyễn Văn H và bị cáo Trần Hoài L1 về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người và đúng pháp luật.

[3] Xét hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H và bị cáo Trần Hoài L1 là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm nhưng vì động cơ tư lợi, để có tiền tiêu xài bị cáo cố tình nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Đối với Cao Văn T2 quá trình điều tra đã có quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự nên tiếp tục điều tra, xác minh làm xử lý sau.

[5] Vụ án có vai trò đồng phạm, trong đó bị cáo Nguyễn Văn H là người khởi xướng, rủ rê, trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội; bị cáo Trần Hoài L1 tham gia với vai trò giúp sức đứng bên ngoài cảnh giới cho bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội nên mức hình phạt của bị cáo H cao hơn bị cáo L1.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn H và bị cáo Trần Hoài L1 phạm tội 02 lần trở lên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại diểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[8] Lời đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa có căn cứ, đúng luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nên được chấp nhận.

[9] Về trách nhiệm dân sự:

Các bị hại Cao Quốc K và Lê Văn D không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu: NAKASEI, màu sơn: nâu, số khung: TT-001212, số máy: FMGB-001212, biển số: 60S3-1861, do ông Nguyễn Công K1 đứng tên giấy đăng ký xe. Ông Cao Quốc K khai mua xe mô tô trên của ông Nguyễn Công K1 vào khoảng tháng 10/2023 nhưng không làm hợp đồng mua bán. Quá trình điều tra xác định ông K1 không có mặt tại địa phương, không biết ông K1 đang ở đâu nên chưa làm việc được với ông K1, chưa xác định được chủ sở hữu xe nên cần giao xe mô tô trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xử lý theo quy định.
  • - 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu: MAJESTY, màu sơn: xanh, số khung: WCH022TT*150319, số máy: P52FMH*150319, biển số: 63S7-2145, do ông Lê Hàm R đứng tên giấy đăng ký xe. Quá trình điều tra xác định, năm 2019, ông R đã tặng chiếc xe trên cho con trai ruột là ông Lê Hùng H2, sinh năm 1994, cùng hộ khẩu thường trú với ông R. Khoảng đầu năm 2024, ông H2 đã bán xe mô tô trên cho ông Lê Văn D nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại xe mô tô trên cho ông D là có căn cứ.

[11] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • - Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • - Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H và Trần Hoài L1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/3/2024.

Xử phạt bị cáo Trần Hoài L1 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/3/2024.

2. Về xử lý vật chứng:

Giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu: NAKASEI, màu sơn: nâu, số khung: TT-001212, số máy: FMGB-001212, biển số: 60S3-1861 để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xử lý theo quy định pháp luật khi có đủ chứng cứ.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16 tháng 8 năm 2024 giữa Chi cục Thi hành dân sự thành phố T và Công an thành phố T).

3. Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Văn H và bị cáo Trần Hoài L1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND TP.Thuận An;
  • - Chi cục THADS TP. Thuận An;
  • - Công an TP. Thuận An;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, THAHS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thanh Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 306/2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 306/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger