Mẫu số 52-DS
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 373/2024/DS-ST
Ngày: 30-9-2024
V/v tranh chấp về thừa kế tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bé Thu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hùng Bích và ông Nguyễn Văn Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký, là Thư ký Tòa án, của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Long Xuyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên.
Trong ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 140/2021/TLST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2021 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 495/2023/QĐXXST-DS, ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1950 (Có mặt)
Cư trú: Số A, khóm M, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1983. Cư trú: Số A, khóm M, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Theo Giấy ủy quyền được Văn phòng C1 chứng nhận có số công chứng 001246, ngày 02/12/2021 (Có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn:
- Bà Hồ Hoàng P, luật sư của Văn phòng Luật sư Hồ Hoàng P thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A; địa chỉ văn phòng: 1058, đường T, tổ A, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (Vắng mặt)
- Ông Trần Văn N1, luật sư của Văn phòng Luật sư Trần Văn N1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A; địa chỉ văn phòng E đường N, khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang (Vắng mặt).
Bị đơn:
2
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1957 (Có mặt);
- Bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1959 (Vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1962 (Có mặt);
- Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1971 (Có mặt);
Cùng cư trú: Số A, khóm M, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị N2: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1962. Theo giấy ủy quyền được Văn phòng C2 chứng nhận có số công chứng 11, ngày 03/01/2024.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Trần Ngọc P1, luật sư của Văn phòng Luật sư Trần Ngọc P1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A; địa chỉ văn phòng: 5, đường B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Kim P2, sinh năm 1981 (Có mặt)
- Ông Phan Thế C, sinh năm 1980 (Vắng mặt)
Cùng cư trú: Ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Ông Nguyễn Phú K, sinh năm 1995 (Vắng mặt)
- Ông Trần Văn T1, sinh năm 1956 (Vắng mặt)
- Ông Trần Thanh T2, sinh năm 1980 (Vắng mặt)
- Ông Trần Thanh T3, sinh năm 1981 (Có mặt)
- Bà Trần Thị Diễm H1, sinh năm 1992 (Vắng mặt)
Cùng cư trú: Số A, khóm M, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Căn cứ đơn khởi kiện ngày 14/01/2021; đơn sửa chữa bổ sung đơn khởi kiện ngày 29/4/2021 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 28/12/2021 thể hiện các yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N như sau:
Ông Nguyễn Văn T4 (sinh năm 1930, chết năm 2004) và bà Ngô Thị K1 (sinh năm 1927, chết năm 2019), có với nhau 05 người con gồm: Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Thị T và Nguyễn Thị D.
Ông T4 và bà K1 chết không để lại di chúc.
Di sản ông T4 và bà K1 để lại gồm:
1/ 1.000m²đất thổ cư tọa lạc tại phường M, trên phần diện tích đất này hiện tại có 06 căn nhà gồm:
- - Một căn nhà phủ thờ do ông Nguyễn Văn T4 và bà Ngô Thị K1 xây dựng bằng bê tông cốt thép, vách tường, mái ngói hiện do bà Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị N2 quản lý và sử dụng;
3
- - Một căn nhà do bà Nguyễn Thị N2 xây dựng bằng bê tông cốt thép, vách tường, mái tole hiện do Nguyễn Thị T quản lý và sử dụng;
- - Một căn nhà do bà Nguyễn Thị N2 xây dựng bằng bê tông cốt thép, vách tường, mái tole hiện do bà Nguyễn Thị H quản lý và sử sụng;
- - Ba căn nhà do bà Nguyễn Thị N2, bà Nguyễn Thị T xây dựng và đứng ra cho thuê, thu huê lợi từ việc cho thuê 03 căn nhà này.
2/ 11.000m²lúa tại phường M, thành phố L, tỉnh An Giang hiện bà Nguyễn Kim P2 và ông Phan Thế C đang thuê;
3/ 9.000m²đất lúa tại phường M hiện do bà Nguyễn Thị H đang trực tiếp canh tác.
4/ 1.980.000.000 đồng tiền huê lợi từ việc cho thuê 03 gian nhà trọ từ tháng 10/2010 đến tháng 12/2021;
Nay ông Nguyễn Văn N khởi kiện yêu cầu chia di sản của ông T4, bà K1 theo quy định pháp luật. Ông N yêu cầu được nhận hiện vật.
* Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N quá trình hòa giải vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị N2 và bà Nguyễn Thị D thể hiện ý kiến như sau:
Các bà thống nhất:
- - Thời gian ông T4, bà K1 chết;
- - Những người thuộc hàng thừa kế của ông T4, bà K1;
- - Ông T4 và bà K1 chết không để lại di chúc;
- - Các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên hiện do bà Nguyễn Thị N2 đang quản lý và không có thế chấp cho tổ chức, cá nhân nào;
- - Đồng ý chia thừa kế của cha mẹ đối theo pháp luật với các di sản mà ông N yêu cầu; yêu cầu được nhận hiện vật;
- - Đồng ý giá trị di sản tranh chấp định tại Chứng thư thẩm định giá số 10, ngày 23/02/2023 của Công ty Cổ phần T5.
Tuy nhiên, quá trình hòa giải các bị đơn chưa thống nhất được vị trí đất các bà nhận khi chia thừa kế của cha mẹ để lại.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Phú K văng mặt nhưng tại bản tự khai ngày 02/01/2024 thể hiện ý kiến như sau:
Ông không có ý kiến và cũng không có yêu cầu gì trong vụ án. Về nguồn gốc đất cũng như quá trình sử dụng đất và tài sản trên đất đúng như bà N2, bà T, bà H và bà D trình bày.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T1, ông Trần Thanh T2, ông Trần Thanh T3 và bà Trần Thị Diễm H1 vắng mặt nhưng tại bản tự khai ngày 02/01/2024 thể hiện ý kiến như sau:
4
Việc tranh chấp chia thừa kế các ông, bà không có ý kiến và cũng không có yêu cầu gì. Về nguồn gốc đất cũng như quá trình sử dụng đất và tài sản trên đất đúng như bà N2, bà T, bà H và bà D trình bày. Về căn nhà các ông, bà ở là tài sản của bà hôn không liên quan gì đến các ông, bà.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Thế C, bà Nguyễn Kim P2 thể hiện ý kiến tại đơn trình bày ý kiến và yêu cầu vắng mặt ngày 07/4/2023 như sau:
Lúc ông bà nội còn sống vợ chồng ông thuê phần diện tích đất đã được UBND thị xã L cấp giấy chứng nhận số 035QSDĐ/hA, ngày 03/5/1993 cho ông Nguyễn Văn T4 với tổng diện tích sử dụng là 10894m² (đo đạc thực tế là 11011,7m²), loại đất 2L, tại thửa số 481, 482, tờ bản đồ số 4 của phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Giá thuê là 140 giạ/năm. Sau khi ông bà nội mất thì tiếp tục thuê và trả tiền thuê cho bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị N2 với giá là 150 giạ/năm. Đối với tranh chấp thừa kế giữa các bên, ông bà không có ý kiến. Ông, bà chỉ thuê và trả tiền hằng năm. Sau này nếu ai được chia phần đất này mà cho ông, bà tiếp tục thuê thì ông, bà sẽ thuê còn nếu không cho nữa thì thôi. Việc cho thuê chỉ nói miệng không có lập hợp đồng.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn N xác định:
- - Đối với 1.000m² đất thổ cư tọa lạc tại phường M. Trước đây ông không xác định được chính xác diện tích nên ông ghi trong đơn khởi kiện là 1.000m². Sau khi đo đạc thì phần đất này có diện tích thực tế là 696,9m² (Trong đó: Đất ODT là 200m², đất CLN là 496,9m²). QSDĐ đã được UBND thành phố L cấp giấy chứng nhận QSDĐ số 00615, ngày 05/02/2004 cho ông Nguyễn Văn T4, bà Ngô Thị K1. Do đó, ông yêu cầu chia thừa kế đối với phần diện tích đất 696,9m². Về tài sản trên đất ông yêu cầu chia thừa kế đối với căn nhà phủ thờ do ông Nguyễn Văn T4 và bà Ngô Thị K1 xây dựng có diện tích 55,2m² có cấu trúc nền gạch bông, vách gạch, mái ngói.
- - Đối với phần diện tích đất lúa 11.000m² tọa lạc tại phường M. Trước đây ông không xác định được chính xác diện tích nên ông ghi trong đơn khởi kiện là 11.000m². Sau khi đo đạc thì phần diện tích thực tế là 10.954,3m². QSDĐ đã được UBND thị xã L cấp giấy chứng nhận QSDĐ số 035QSDĐ/hA, ngày 03/5/1993 cho ông Nguyễn Văn T4. Ông yêu cầu chia thừa kế đối với phần diện tích thực tế là 10.954,3m².
- - Ông yêu cầu được nhận 1 kỷ phần thừa kế là diện tích đất lúa ở M
- - Ông rút lại các yêu cầu chia thừa kế đối với:
- + 9.000m²đất lúa tại phường M hiện do bà Nguyễn Thị H đang trực tiếp canh tác;
- + 1.980.000.000 đồng tiền huê lợi từ việc cho thuê 03 gian nhà trọ từ tháng 10/2010 đến tháng 12/2021;
5
- + Nhà xây dựng trên quyền sử dụng đất đã được UBND thành phố L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00615, ngày 05/02/2004 cho ông Nguyễn Văn T4, bà Ngô Thị K1 gồm: 01 căn nhà do bà Nguyễn Thị N2 xây dựng bằng bê tông cốt thép, vách tường, mái tole hiện do Nguyễn Thị T quản lý và sử dụng; 01 căn nhà do bà Nguyễn Thị N2 xây dựng bằng bê tông cốt thép, vách tường, mái tole hiện do bà Nguyễn Thị H quản lý và sử sụng và 03 căn nhà do bà Nguyễn Thị N2, bà Nguyễn Thị T xây dựng và đứng ra cho thuê, thu huê lợi.
Bị đơn bà Nguyễn Thị N2, bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị H yêu cầu:
- Phần di sản là đất ODT và CLN tại phường M bà H, bà N2, bà T và bà D thống nhất sẽ nhận hiện vật. Bà N2 và bà T yêu cầu được sử dụng, sở hữu chung quyền sử dụng đất, nhà ở được chia. Đồng thời, dựa trên Bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty TNHH Đ xác lập ngày 10/9/2024 các bà thỏa thuận vị trí như sau:
- + Bà H nhận diện tích tại vị trí được giới hạn bởi các điểm D, 87, 86, 25, 15, 61, 10, B, 67, 68, 64, 69, 70, 71, 72;
- + Bà D nhận diện tích tại vị trí được giới hạn bởi các điểm C, 44, 31, 39, 22, 26, 59, 13, A, 5, 9, 4, B, 10, 61, 15, 25, 86, 87;
- + Bà N2 và bà T nhận diện tích tại vị trí được giới hạn bởi điểm 66, A, 13, 59, 26, 22, 39, 31, 44, C, 73.
Riêng phần đất lúa sau khi chia cho ông N phần còn lại sẽ chia đôi cho bà D và bà H. Bà D nhận phần diện tích có đất mộ của cha, mẹ.
Đối với các vật kiến trúc thuộc quyền sử dụng đất các bà được nhận thừa kế bà không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết; riêng các vật kiến trúc nào nằm ngoài phạm vi ranh giới quyền sử dụng đất các bà nhận thừa kế các bà sẽ tự tháo dỡ, di dời về đúng phạm vi, ranh giới quyền sử dụng đất được nhận.
Bà Nguyễn Kim P2 trình bày ý kiến:
Bà không có ý kiến về tranh chấp giữa các bên. Hiện phần đất ruộng tại Mỹ Thới vợ chồng ông không còn canh tác.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà N2, bà T, bà D, bà H trình bày ý kiến:
Trong vụ án các đương sự đã thống nhất: Về thời điểm ông T4, bà K1 chết; hàng thừa kế của ông T4, bà K1; di sản thừa kế ông T4, bà K1 để lại; ông T4 và bà K1 chết không để lại di chúc, và những người thuộc hàng thừa kế cũng thống nhất chia theo pháp luật; ông N, bà H, bà N2, bà T và bà D cũng thống nhất được việc chia thừa kế bằng hiện vật nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận ý kiến của bị đơn; đồng thời trong vụ án có một số bị đơn là người cao tuổi thuộc đối tượng được miễn án phí theo quy định nên đề nghị Hội đồng xét xử có xem xét quan tâm.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
6
ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N đã rút như trình bày tại phiên tòa.
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N:
- + Xác định những người thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông T4 (chết năm 2004) và bà (chết năm 2019) gồm: Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Thị T và Nguyễn Thị D. Ông T4 bà K1 chết không để lại di chúc nên chia thừa kế theo pháp luật.
- + Di sản thừa kế phân chia gồm: QSDĐ đã được UBND thị xã L cấp giấy chứng nhận QSDĐ số 035QSDĐ/hA, ngày 03/5/1993 cho ông Nguyễn Văn T4 với tổng diện tích sử dụng là 10894m2, loại đất 2L, tại thửa số 481, 482, tờ bản đồ số 4 của phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Qua đo đạc thực tế diện tích đủ điều kiện cấp giấy là 10.954,3m² được giới hạn bởi các điểm 3, 4, 5, 6, 7, 8, 30, 35, 10, 11, 12, 13, 25; QSDĐ đã được UBND thành phố L cấp giấy chứng nhận QSDĐ số 00615, ngày 05/02/2004 cho ông Nguyễn Văn T4, bà Ngô Thị K1 với tổng diện tích sử dụng là 696,9m² (Trong đó: Đất ODT là 200m2, đất CLN là 496,9m²) tại thửa đất số 9, 211 tờ bản đồ số 6 của phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nhà trên đất của ông T4, bà K1 xây dựng có diện tích 55,2m² được giới hạn bởi các điểm 22, 36, 59, 26.
- + Phân chia di sản thừa kế theo pháp luật bằng hiện vật như sau: (1) Ông N được nhận 7710,3m² đất 2L được giới hạn bởi các điểm 3, 4, 5, 6, 7, 8, 30, 35, 10, 34, 11, 15, C, B, A thuộc giấy chứng nhận QSDĐ số 035QSDĐ/hA. (2) Bà D được nhận 1622m² đất 2L được giới hạn bởi các điểm C, 15, 11, 12, 13, 25, D thuộc giấy chứng nhận QSDĐ 035QSDĐ/hA; 225,6m² được giới hạn bởi các điểm C, 44, 31, 39, 22, 26, 59, 13, A, 5, 9, 4, B, 10, 61, 15, 25, 86, 87 thuộc giấy chứng nhận QSDĐ số 00615 (Trong đó diện tích đất ODT là 36m² và CLN là 189,6m²). (3) Bà H được nhận 1622m² đất 2L được giới hạn bởi các điểm A, B, C, D thuộc giấy chứng nhận QSDĐ số 035QSDĐ/hA; 206m² được giới hạn bởi các điểm D, 87, 86, 25, 15, 61, 10, B, 67, 68, 64, 69, 70, 71, 72 thuộc giấy chứng nhận QSDĐ số 00615 (Trong đó diện tích đất ODT là 30m² và CLN là 176m²). (4) Bà T và bà N2 được nhận 265,3m² được giới hạn bởi điểm 66, A, 13, 59, 26, 22, 39, 31, 44, C, 73 thuộc QSDĐ số 00615 (Trong đó diện tích đất ODT là 134m²
7
- và CLN là 131,3m² và căn nhà có diện tích 55,2m² được giới hạn bởi các điểm 22, 36, 59, 26 có cấu trúc: nền gạch bông, vách gạch, mái ngói.
- + Bà T có nghĩa vụ bàn giao các giấy chứng nhận QSDĐ để các bên liên hệ Văn phòng đăng ký đất đai có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- + Bà N2, bà T và bà D không phải hoàn lại giá trị di sản chênh lệch cho bà H do bà H không có yêu cầu.
- - Đối với các vật kiến trúc xây dựng nằm ngoài phạm vi ranh giới QSDĐ bà T, bà N2 và bà H được nhận thừa kế các bà tự nguyện tháo dỡ, di dời về đúng phạm vi ranh giới quyền sử dụng đất được nhận thừa kế. Do đó, không cần thiết phải đưa các chủ sử của phần diện tích đất xây dựng lấn qua vào tham gia vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 do không ảnh hưởng đến quyền lợi của họ.
- - Đối với các vật kiến trúc còn lại nằm trên QSDĐ bà H, bà N2, bà T và bà D nhận thừa kế các bà đề nghị ổn định không yêu cầu xem xét giải quyết, sau này có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông N khởi kiện yêu cầu chia thừa kế của bà K1, ông T4. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về thừa kế tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi đăng ký thường trú tại thành phố L nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý là đúng thẩm quyền.
[2] Về thủ tục tố tụng:
[2.1] Ông N ủy quyền cho ông L, bà N2 ủy quyền cho bà T. Việc ủy quyền phù hợp với quy định pháp luật. Do đó, ông L tham gia với tư cách người đại diện theo ủy quyền của ông N; bà T tham gia với tư cách người đại diện theo ủy quyền của bà N2 theo quy định tại khoản 4 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2.2] Bà P2, ông N1, ông C, ông K, ông T1, ông T2, ông T3, bà H1 được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2. Căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt các ông, bà này.
[2.3] Về việc rút lại một phần yêu cầu khởi kiện: Ông N rút lại các yêu cầu chia thừa kế đối với:
- - 9.000m²lúa tại phường M hiện do bà Nguyễn Thị H đang trực tiếp canh tác;
- - 1.980.000.000 đồng tiền huê lợi từ việc cho thuê 03 gian nhà trọ từ tháng 10/2010 đến tháng 12/2021;
8
- - Nhà xây dựng trên quyền sử dụng đất đã được UBND thành phố L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00615, ngày 05/02/2004 cho ông Nguyễn Văn T4, bà Ngô Thị K1 gồm: 01 căn nhà do bà Nguyễn Thị N2 xây dựng bằng bê tông cốt thép, vách tường, mái tole hiện do Nguyễn Thị T quản lý và sử dụng; 01 căn nhà do bà Nguyễn Thị N2 xây dựng bằng bê tông cốt thép, vách tường, mái tole hiện do bà Nguyễn Thị H quản lý và sử sụng và 03 căn nhà do bà Nguyễn Thị N2, bà Nguyễn Thị T xây dựng và đứng ra cho thuê, thu huê lợi.
Hội đồng xét xử xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện nên căn cứ vào khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện này.
[3] Về nội dung vụ án:
Ông Nguyễn Văn N yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với các di sản của ông T4 và bà K1 gồm:
- - 696,9m² (Trong đó: Đất ODT là 200m², đất CLN là 496,9m²). QSDĐ đã được UBND thành phố L cấp giấy chứng nhận QSDĐ số 00615, ngày 05/02/2004 cho ông Nguyễn Văn T4, bà Ngô Thị K1. Nhà gắn liền với đất có diện tích 55,2m² có cấu trúc nền gạch bông, vách gạch, mái ngói.
- - 10.954,3m² đất lúa. QSDĐ đã được UBND thị xã L cấp giấy chứng nhận QSDĐ số 035QSDĐ/hA, ngày 03/5/1993 cho ông Nguyễn Văn T4.
Ông N yêu cầu được nhận hiện vật là đất lúa.
Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1] Về hàng thừa kế của ông Nguyễn Văn T4 (chết năm 2004) và bà Ngô Thị K1 (chết năm 2019): Ông N trình bày ông T4 và bà K1 có các con chung gồm: Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Thị T và Nguyễn Thị D. Bà H, bà N2, bà T và bà D thống nhất ông T4 và bà K1 có các con chung như ông N trình bày. Do đó, Hội đồng xét xử xác định những người thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất của Ông Nguyễn Văn T4 (chết năm 2004) và bà Ngô Thị K1 (chết năm 2019) theo quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 gồm: Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Thị T và Nguyễn Thị D.
[3.2] Về di sản thừa kế: Ông N, bà H, bà N2, bà T và bà D đều thống nhất di sản thừa kế của ông T4 và bà K1 gồm có:
- + QSDĐ đã được UBND thị xã L cấp giấy chứng nhận QSDĐ số 035QSDĐ/hA, ngày 03/5/1993 cho ông Nguyễn Văn T4 với tổng diện tích sử dụng là 10894m², loại đất 2L, tại thửa số 481, 482 (nay cập nhật bản đồ thành thửa 115, 103), tờ bản đồ số 4 của phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Qua đo đạc thực tế diện tích đủ điều kiện cấp giấy là 10.954,3m² được giới hạn bởi các điểm 3, 4, 5, 6, 7, 8, 30, 35, 10, 11, 12, 13, 25.
- + QSDĐ đã được UBND thành phố L cấp giấy chứng nhận QSDĐ số 00615, ngày 05/02/2004 cho ông Nguyễn Văn T4, bà Ngô Thị K1 với tổng diện tích sử dụng là 725,50m², năm 2016 thì nhà nước thu hồi một phần là 28,6m², nên phần diện tích còn lại hiện nay là 696,9m² (Trong đó: Đất ODT là 200m², đất CLN là 496,9m²); tại thửa đất số 9, 211 tờ bản đồ số 6 của phường M, thành phố L, tỉnh
9
- An Giang.
- + Nhà trên đất của ông T4, bà K1 xây dựng có diện tích 55,2m² được giới hạn bởi các điểm 22,36,59,26.
[3.3] Về giá trị di sản: Ông N, bà H, bà N2, bà T và bà D đều thống nhất giá được thể hiện tại Chứng thư thẩm định giá số 10, ngày 23/02/2023 của Công ty Cổ phần T5. Cụ thể: Đất ODT có giá bằng 63.282.000 đồng/m²; đất CLN có giá bằng 7.446.000 đồng/m²; đất lúa có giá bằng 595.000 đồng/m² và nhà ở có giá trị bằng 64.699.920 đồng. Tổng giá trị di sản bằng: 22.938.825.820 đồng.
[3.4] Ông N, bà H, bà N2, bà T và bà D đều thống nhất thừa nhận ông T4 và bà K1 chết không để lại di chúc.
Bà T thừa nhận hiện là người đang giữ bản chính các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông N yêu cầu chia di sản thừa kế. Bà T xác định hiện bản chính 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này không có thế chấp cho tổ chức, cá nhân nào để bảo đảm nghĩa vụ.
Từ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; cũng như lời trình bày của các đương sự có mặt tại phiên tòa đủ căn cứ xác định ông T4, bà K1 chết không để lại di chúc. Do đó, ông N khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với các di sản nêu trên là phù hợp với quy định tại Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.5] Về cách chia:
Ông Nguyễn Văn N yêu cầu được nhận di sản là hiện vật đối với phần diện tích đất lúa tại phường M. Yêu cầu của ông N phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 660 Bộ luật Dân sự năm 2015 và những người thuộc hàng thừa kế còn lại gồm bà H, bà N2, bà T và bà D cũng thống nhất không tranh chấp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với phần di sản bà H, bà N2, bà T và D được nhận các bà thống nhất như sau:
- - Phần di sản là đất lúa tại phường M sau khi chia kỷ phần thừa kế cho ông N thì phần diện tích còn lại sẽ được chia đôi hiện vật cho bà H và bà D. Bà D sẽ nhận phần diện tích đất có khu mộ của ông T4, bà K1.
- - Phần di sản là đất ODT và CLN tại phường M bà H, bà N2, bà T và bà D thống nhất sẽ nhận hiện vật. Bà N2 và bà T yêu cầu được sử dụng, sở hữu chung quyền sử dụng đất, nhà ở được chia. Đồng thời, dựa trên Bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty TNHH Đ xác lập ngày 10/9/2024 các bà thỏa thuận vị trí như sau:
- + Bà H nhận diện tích tại vị trí được giới hạn bởi các điểm D, 87, 86, 25, 15, 61, 10, B, 67, 68, 64, 69, 70, 71, 72;
- + Bà D nhận diện tích tại vị trí được giới hạn bởi các điểm C, 44, 31, 39, 22, 26, 59, 13, A, 5, 9, 4, B, 10, 61, 15, 25, 86, 87;
- + Bà N2 và bà T nhận diện tích tại vị trí được giới hạn bởi điểm 66, A, 13, 59, 26, 22, 39, 31, 44, C, 73.
10
Sự thỏa thuận chia di sản thừa kế của bà H, bà N2, bà T và bà D phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 660 Bộ luật Dân sự năm 2015 và ông N cũng không tranh chấp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.6] Phần di sản thừa kế ông N, bà H, bà N2, bà T và bà D được nhận cụ thể như sau:
- - Ông N được nhận 01 kỷ phần thừa kế theo pháp luật là đất 2L có diện tích bằng 7710,3m² được giới hạn bởi các điểm 3, 4, 5, 6, 7, 8, 30, 35, 10, 34, 11, 15, C, B, A thuộc giấy chứng nhận QSDĐ số 035QSDĐ/hA. Giá trị di sản ông N được nhận bằng 4.587.628.500 đồng.
- - Bà Nguyễn Thị D được nhận: 1622m² đất 2L được giới hạn bởi các điểm C, 15, 11, 12, 13, 25, D thuộc giấy chứng nhận QSDĐ số 035QSDĐ/hA; 225,6m² (Trong đó diện tích đất ODT là 36m² và CLN là 189,6m²) được giới hạn bởi các điểm C, 44, 31, 39, 22, 26, 59, 13, A, 5, 9, 4, B, 10, 61, 15, 25, 86, 87 thuộc giấy chứng nhận QSDĐ số 00615. Giá trị di sản bà D được nhận bằng 4.655.003.600 đồng.
- - Bà Nguyễn Thị H được nhận: 1622m² đất 2L được giới hạn bởi các điểm A, B, C, D thuộc giấy chứng nhận QSDĐ số 035QSDĐ/hA; 206m² (Trong đó diện tích đất ODT là 30m² và CLN là 176m²) được giới hạn bởi các điểm D, 87, 86, 25, 15, 61, 10, B, 67, 68, 64, 69, 70, 71, 72 thuộc giấy chứng nhận QSDĐ số 00615, ngày 05/02/2004. Giá trị di sản bà H được nhận là: 4.174.046.000 đồng.
- - Bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị N2 được nhận: 265,3m² (Trong đó diện tích đất ODT là 134m² và CLN là 131,3m²) được giới hạn bởi điểm 66, A, 13, 59, 26, 22, 39, 31, 44, C, 73 thuộc giấy chứng nhận QSDĐ số 00615; căn nhà có diện tích 55,2m² được giới hạn bởi các điểm 22, 36, 59, 26 có cấu trúc: nền gạch bông, vách gạch, mái ngói. Giá trị di sản bà N2 và bà T được nhận là: 9.522.147.720 đồng.
[3.7] Bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ bàn giao các giấy chứng nhận QSDĐ để các bên liên hệ Văn phòng đăng ký đất đai có thẩm quyền thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[3.8] Đối với phần di sản bà D, bà N2 và bà T được nhận nhiều hơn 01 kỷ phần thừa kế theo pháp luật. Lẽ ra các bà phải có nghĩa vụ hoàn lại phần giá trị chênh lệch cho bà H. Tuy nhiên, bà H không có yêu cầu và đồng ý nhận kỷ phần thừa kế là hiện vật như trên có giá trị bằng 4.174.046.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét đối với nghĩa vụ hoàn giá trị chênh lệch của bà D, bà N2 và bà T cho bà H.
[4] Đối với các vật kiến trúc:
[4.1] Trên quyền sử dụng đất bà Nguyễn Thị D được nhận gồm: Căn nhà gỗ có diện tích 56,4m² được giới hạn bởi các điểm 25, 26, 59, 13, 2, 61, 15; nhà vệ sinh có diện tích 5,0m² được giới hạn bởi các điểm 12, 60, 11, 6; nhà gỗ có diện tích 15,2m² được giới hạn bởi các điểm 3, 5, 9, 4. Đối với các vật kiến trúc này do bà
11
D, bà N2 và bà T xây dựng. Bà N2 và bà T đồng ý giao các vật kiến trúc này cho bà D sở hữu.
[4.2] Trên quyền sử dụng đất bà Nguyễn Thị N2, bà Nguyễn Thị T nhận thừa kế có: Căn nhà gạch có diện tích 26,2m² được giới hạn bởi các điểm 44, 42, 32, 31 (do bà N2 xây dựng); căn nhà gạch có diện tích 61,9m² được giới hạn bởi các điểm 42, 40, 34, 33, 32 (do bà T xây dựng); mái che có diện tích 52,7m² được giới hạn bởi các điểm 47, 43, 41, 40, 42, 44, 45 (do bà N2 và bà T xây dựng); mái che có diện tích 13,9m² được giới hạn bởi các điểm 39, 38, 36, 22 (do bà N2 xây dựng); căn nhà sắt có diện tích 13,7m² được giới hạn bởi các điểm 35, 57, 58, 37 (do ông K xây dựng); mái che có diện tích 11,2m² được giới hạn bởi các điểm 85, 86, 57, 35 (do ông K xây dựng).
Trong đó có: Phần mái che 17,8m² được giới hạn bởi các điểm 78, 47, 43, 41, 66, 73 thuộc đất giao thông; phần mái che diện tích 0,2m² được giới hạn bởi các điểm 66, 40, 74; một phần căn nhà có diện tích 0,9m² được giới hạn bởi các điểm 74, 40, 75 nằm ngoài phạm vi ranh giới quyền sử dụng đất hai bà được nhận thừa kế và một phần mái che được giới hạn bởi các điểm 78, D, C, 44, 87, 45 trên quyền sử dụng đất bà D, bà H được nhận thừa kế. Đối với các diện tích này, hai bà sẽ tự tháo dỡ, di dời về đúng phạm vi ranh giới quyền sử dụng đất được chia thừa kế.
Riêng căn nhà sắt có diện tích 13,7m² được giới hạn bởi các điểm 35, 57, 58, 37 và mái che có diện tích 11,2m² được giới hạn bởi các điểm 85, 86, 57, 35 do ông K xây dựng. Hai bà không yêu cầu ông K tháo dỡ, di dời. Hai bà cho ông K tiếp tục sử dụng, khi nào tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
Đối với các vật kiến trúc còn lại các bà sẽ thực hiện đăng ký quyền sở hữu tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định pháp luật, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
[4.3] Trên quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị H nhận thừa kế có: Căn nhà bê tông (Trong đó: tầng 1 có diện tích 50,3m² được giới hạn bởi các điểm 28, 23, 24, 65; tầng 2 có diện tích 50,3m² được giới hạn bởi các điểm 87, 88, 89, 90 và ban công tầng 2 có diện tích 18,2m² được giới hạn bởi các điểm 90, 91, 92, 93, 88, 87); căn nhà bê tông có diện tích 25,6m² được giới hạn bởi các điểm 29, 28, 65, 64; căn nhà gỗ có diện tích 16,7m² được giới hạn bởi các điểm 64, 65, 19, 20, 63, 21; nhà vệ sinh có diện tích 2,1m² được giới hạn bởi các điểm 18, 17, 16, 62; nhà gỗ có diện tích 6,4m² được giới hạn bởi các điểm 1, 14, 15, 61, 10; một phần căn nhà của bà Nguyễn Thị N2 có diện tích 4,5m² được giới hạn bởi các điểm 79, 45, 30, 80, 71.
Đối với: Căn nhà bê tông (Trong đó: tầng 1 có diện tích 50,3m²; tầng 2 có diện tích 50,3m² và ban công tầng 2 có diện tích 18,2m²); căn nhà bê tông có diện tích 25,6m²; căn nhà gỗ có diện tích 16,7m². Bà H, cũng như những người đang sinh sống tại đây xác định là nhà của bà H xây dựng, khi nhận di sản thừa kế thì đối với các tài sản trên đất này bà H không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
12
Đối với: Nhà vệ sinh có diện tích 2,1m² được giới hạn bởi các điểm 18, 17, 16, 62; nhà gỗ có diện tích 6,4m² được giới hạn bởi các điểm 1, 14, 15, 61, 10 do bà N2, bà T và bà D xây dựng và một phần căn nhà của bà Nguyễn Thị N2 có diện tích 4,5m² được giới hạn bởi các điểm 79, 45, 30, 80, 71. Bà không yêu cầu các bà N2, bà T và bà D tháo dỡ, di dời. Sau này nếu có tranh chấp bà sẽ yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác.
Riêng đối với các phần diện tích: 4,2m² được giới hạn bởi các điểm 28, 81, 70, 83 thuộc tầng 1; 4,2m² được giới hạn bởi các điểm 87, 95, 70, 98 thuộc tầng 2 và 7,1m² được giới hạn bởi các điểm 97, 92, 96, 95, 87, 98 và 3,4m² được giới hạn bởi các điểm 29, 28, 83, 84 nằm ngoài phạm vi ranh giới quyền sử dụng đất bà được nhận thừa kế bà sẽ tự tháo dỡ, di dời về đúng phạm vi ranh giới quyền sử dụng đất được chia thừa kế.
[5] Đối với các vật kiến trúc bà N2, bà T và bà H xây dựng ngoài phạm vi ranh giới quyền sử dụng đất các bà được nhận thừa kế các bà đồng ý tự tháo dỡ, di dời về đúng phạm vi ranh giới quyền sử dụng đất được nhận thừa kế do đó Hội đồng xét xử xét không cần thiết đưa chủ sử dụng đất của các phần đất có công trình của các bà xây dựng lấn chiếm vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[6] Đối với những người đang sinh sống trên phần diện tích đất bà N2, bà T, bà H được nhận thừa kế gồm ông K, ông T1, ông T2, ông T3, bà H1. Các ông, bà không có yêu cầu độc lập trong vụ án, đồng thời phía bà N2, bà T, bà H cũng không có yêu cầu các ông bà không được tiếp tục sinh sống trên phần diện tích đất được nhận thừa kế do đó Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề lưu cư đối với các ông, bà.
[7] Đối với ông C, bà P2 là người thuê phần diện tích đất lúa tại phường M. Ông, bà xác định chỉ thuê hằng năm. Tại phiên tòa, bà P2 xác định hiện nay đã xong vụ mùa ông, bà không còn canh tác nữa. Do đó, việc chia thừa kế đối với quyền sử dụng đất này không ảnh hưởng đến quyền lợi của ông, bà nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xem xét quyền lợi, nghĩa vụ của ông, bà.
[8] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá: 47.300.000 đồng (Trong đó chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 17.300.000 đồng và chi phí định giá là 30.000.000 đồng). Các bên phải chịu tương ứng với giá trị di sản mình được nhận. Ông N đã tạm ứng phần chi phi này nên bà H, bà N2, bà T và bà D phải có nghĩa vụ hoàn lại cho ông N.
[9] Về án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự nộp theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
13
- - Khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 85, khoản 2 Điều 244, khoản 3 Điều 228, Điều 271, 273, 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 609, 612, 613, 649, 650, 651 và 660 Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N đối với yêu cầu khởi kiện chia thừa kế:
- - 9.000m²đất lúa tại phường M hiện do bà Nguyễn Thị H đang trực tiếp canh tác;
- - 1.980.000.000 đồng tiền huê lợi từ việc cho thuê 03 gian nhà trọ từ tháng 10/2010 đến tháng 12/2021;
- - Nhà xây dựng trên quyền sử dụng đất đã được UBND thành phố L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00615, ngày 05/02/2004 cho ông Nguyễn Văn T4, bà Ngô Thị K1 gồm: 01 căn nhà do bà Nguyễn Thị N2 xây dựng bằng bê tông cốt thép, vách tường, mái tole hiện do Nguyễn Thị T quản lý và sử dụng; 01 căn nhà do bà Nguyễn Thị N2 xây dựng bằng bê tông cốt thép, vách tường, mái tole hiện do bà Nguyễn Thị H quản lý và sử sụng và 03 căn nhà do bà Nguyễn Thị N2, bà Nguyễn Thị T xây dựng và đứng ra cho thuê, thu huê lợi.
[2] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N:
Xác định những người thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất của Ông Nguyễn Văn T4 (chết năm 2004) và bà Ngô Thị K1 (chết năm 2019) gồm: Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Thị T và Nguyễn Thị D.
Di sản thừa kế phân chia gồm:
- - QSDĐ đã được UBND thị xã L cấp giấy chứng nhận QSDĐ số 035QSDĐ/hA, ngày 03/5/1993 cho ông Nguyễn Văn T4 với tổng diện tích sử dụng là 10894m², loại đất 2L, tại thửa số 115, 103, tờ bản đồ số 4 của phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Qua đo đạc thực tế diện tích đủ điều kiện cấp giấy là 10.954,3m2 được giới hạn bởi các điểm 3, 4, 5, 6, 7, 8, 30, 35, 10, 11, 12, 13, 25.
- - Quyền sử dụng đất đã được UBND thành phố L cấp giấy chứng nhận QSDĐ số 00615, ngày 05/02/2004 cho ông Nguyễn Văn T4, bà Ngô Thị K1 với tổng diện tích sử dụng là 725,50m², năm 2016 thì nhà Nước thu hồi một phần là 28,6m², nên phần diện tích còn lại hiện nay là 696,9m² (Trong đó: Đất ODT là 200m², đất CLN là 496,9m²; tại thửa đất số 9, 211 tờ bản đồ số 6 của phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- - Nhà trên đất của ông T4, bà K1 xây dựng có diện tích 55,2m² được giới hạn bởi các điểm 22, 36, 59, 26 có cấu trúc nền gạch bông, vách gạch, mái ngói.
14
Phân chia di sản thừa kế theo pháp luật bằng hiện vật như sau:
- - Ông Nguyễn Văn N được nhận 7710,3m² đất 2L được giới hạn bởi các điểm 3, 4, 5, 6, 7, 8, 30, 35, 10, 34, 11, 15, C, B, A thuộc giấy chứng nhận QSDĐ đã được UBND thị xã L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 035QSDĐ/hA, ngày 03/5/1993 cho ông Nguyễn Văn T4, tại thửa số 481, 482 (nay cập nhật bả đồ mới là thửa số 115, 103) tờ bản đồ số 4 của phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (Trong đó: thửa số 103 là 5939,9m², thửa số 115 là 1770,4m²). Giá trị di sản ông N được nhận bằng 4.587.628.500 (Bốn tỷ, năm trăm tám mươi bảy triệu, sáu trăm hai mươi tám nghìn, năm trăm) đồng;
- - Bà Nguyễn Thị D được nhận:
- + 1622m² đất 2L được giới hạn bởi các điểm C, 15, 11, 12, 13, 25, D thuộc giấy chứng nhận QSDĐ đã được UBND thị xã L cấp giấy chứng nhận QSDĐ số 035QSDĐ/hA, ngày 03/5/1993 cho ông Nguyễn Văn T4, tại thửa số 115, 103 tờ bản đồ số 4 của phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (Trong đó: thửa số 103 là 119,1m², thửa số 115 là 1502,9m²).
- + 225,6m² được giới hạn bởi các điểm C, 44, 31, 39, 22, 26, 59, 13, A, 5, 9, 4, B, 10, 61, 15, 25, 86, 87 thuộc giấy chứng nhận QSDĐ đã được UBND thành phố L cấp giấy chứng nhận QSDĐ số 00615, ngày 05/02/2004 cho ông Nguyễn Văn T4, bà Ngô Thị K1 (Trong đó diện tích đất ODT là 36m² và CLN là 189,6m².
- + Giá trị di sản bà D được nhận bằng 4.655.003.600 (Bốn tỷ, sáu trăm năm mươi lăm triệu, không trăm lẻ ba nghìn, sáu trăm) đồng.
- - Bà Nguyễn Thị H được nhận:
- + 1622m² đất 2L được giới hạn bởi các điểm A, B, C, D thuộc giấy chứng nhận QSDĐ đã được UBND thị xã L cấp giấy chứng nhận QSDĐ số 035QSDĐ/hA, ngày 03/5/1993 cho ông Nguyễn Văn T4, tại thửa số 115, 103 tờ bản đồ số 4 của phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (Trong đó: thửa số 103 là 90,0m², thửa số 115 là 1532m²).
- + 206m² được giới hạn bởi các điểm D, 87, 86, 25, 15, 61, 10, B, 67, 68, 64, 69, 70, 71, 72 thuộc giấy chứng nhận QSDĐ đã được UBND thành phố L cấp giấy chứng nhận QSDĐ số 00615, ngày 05/02/2004 cho ông Nguyễn Văn T4, bà Ngô Thị K1 (Trong đó diện tích đất ODT là 30m² và CLN là 176m²).
- + Giá trị di sản bà H được nhận bằng 4.174.046.000 (Bốn tỷ, một trăm bảy mươi bốn triệu, không trăm bốn mươi sáu nghìn) đồng.
- - Bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị N2 được nhận:
- + 265,3m² được giới hạn bởi điểm 66, A, 13, 59, 26, 22, 39, 31, 44, C, 73 thuộc giấy chứng nhận QSDĐ đã được UBND thành phố L cấp giấy chứng nhận QSDĐ số 00615, ngày 05/02/2004 cho ông Nguyễn Văn T4, bà Ngô Thị K1 (Trong đó diện tích đất ODT là 134m² và CLN là 131,3m²).
15
- + Căn nhà có diện tích 55,2m² được giới hạn bởi các điểm 22,36,59,26 có cấu trúc: nền gạch bông, vách gạch, mái ngói.
- + Giá trị di sản bà T và N2 được nhận bằng 9.522.147.720 (Chín tỷ, năm trăm hai mươi hai triệu, một trăm bốn mươi bảy nghìn, bảy trăm hai mươi) đồng.
Bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ bàn giao các giấy chứng nhận QSDĐ để các bên liên hệ Văn phòng đăng ký đất đai có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Bà Nguyễn Thị N2, Nguyễn Thị T và Nguyễn Thị D không phải hoàn lại giá trị di sản chênh lệch cho bà Nguyễn Thị H.
[3] Ghi nhận sự tự nguyện:
Của bà Nguyễn Thị H về việc tự nguyện tháo dỡ, di dời phần kiến trúc nằm ngoài phạm vi ranh giới quyền sử dụng đất được nhận thừa kế tại các vị trí gồm: 4,2m² được giới hạn bởi các điểm 28, 81, 70, 83 thuộc tầng 1; 4,2m² được giới hạn bởi các điểm 87, 95, 70, 98 thuộc tầng 2 và 7,1m² được giới hạn bởi các điểm 97, 92, 96, 95, 87, 98 và 3,4m² được giới hạn bởi các điểm 29, 28, 83, 84 về đúng phạm vi ranh giới QSDĐ được nhận thừa kế.
Của bà Nguyễn Thị N2, bà Nguyễn Thị T về việc tự nguyện tháo dỡ, di dời phần kiến trúc nằm ngoài phạm vi ranh giới quyền sử dụng đất được nhận thừa kế tại các vị trí gồm: 17,8m² được giới hạn bởi các điểm 78, 47, 43, 41, 66, 73; 0,2m² được giới hạn bởi các điểm 66, 40, 74; một phần diện tích được giới hạn bởi các điểm 78, D, C, 44, 87, 45 và 0,9m² được giới hạn bởi các điểm 74, 40, 75 về đúng phạm vi ranh giới QSDĐ được nhận thừa kế.
[4] Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết đối với các vật kiến trúc trên quyền sử dụng đất bà H, bà N2, bà T và bà D được nhận do các bà không yêu cầu gồm:
- Nhà vệ sinh diện tích 2,1m² được giới hạn bởi các điểm 18, 17, 16, 62; nhà gỗ có diện tích 6,4m² được giới hạn bởi các điểm 1, 14, 15, 61, 19 do bà N2, bà T và bà D xây dựng và một phần căn nhà của bà Nguyễn Thị N2 có diện tích 4,5m² được giới hạn bởi các điểm 79, 45, 30, 80, 71 (Thuộc quyền sử dụng đất bà H nhận thừa kế);
- Căn nhà diện tích 13,7m² được giới hạn bởi các điểm 35, 57, 58, 37 và mái che có diện tích 11,2m² được giới hạn bởi các điểm 85, 86, 57, 35 do ông K xây dựng (Thuộc quyền sử dụng đất bà N2 và bà T nhận thừa kế);
- Căn nhà gỗ có diện tích 56,4m² được giới hạn bởi các điểm 25, 26, 59, 13, 2, 61, 15; nhà vệ sinh có diện tích 5,0m² được giới hạn bởi các điểm 12, 60, 11, 6; nhà gỗ có diện tích 15,2m² được giới hạn bởi các điểm 3, 5, 9, 4 (Thuộc quyền sử dụng đất bà D được nhận thừa kế).
Đối với căn nhà diện tích 55,2m² được giới hạn bởi các điểm 22, 36, 59, 26 có cấu trúc: nền gạch bông, vách gạch, mái ngói bà T và bà N2 được nhận thừa kế
16
các bà liên hệ cơ quan có thẩm quyền để đăng ký quyền sở hữu theo quy định pháp luật.
(Các điểm giới hạn diện tích trên được thể hiện tại Bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty TNHH Đ xác lập ngày 10/9/2024).
[5] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá:
Ông N phải chịu 9.450.000 (Chín triệu, bốn trăm năm mươi) đồng. Được trừ vào tiền tạm ứng đã nộp, ông N đã nộp đủ.
Bà D có nghĩa vụ hoàn lại cho ông N: 9.599.000 (Chín triệu, năm trăm chín mươi chín nghìn) đồng.
Bà H có nghĩa vụ hoàn lại cho ông N: 8.607.000 (Tám triệu, sáu trăm lẻ bảy nghìn) đồng.
Bà N2, bà T có nghĩa vụ hoàn lại cho ông N: 19.631.000 (Mười chín triệu, sáu trăm ba mươi mốt nghìn) đồng.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị N2, bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị H là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp án phí nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- - Bà Nguyễn Thị D nộp 112.655.000 (Một trăm mười hai triệu, sáu trăm năm mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[7] Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
(Đính kèm bản án là 02 Bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty TNHH Đ ký ngày 10/9/2024)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Bé Thu |
Bản án số 373/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 373/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật
