|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐĂK LĂK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 306/2024/HS-ST |
|
|
Ngày : 30 – 9 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải An.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Bùi Ngọc Thảo.
- Ông Lê Văn Tập.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyệt Ánh – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh – Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 30/9/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 231/2024/HSST ngày 06/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 248/2024/QĐXXST-HS ngày 28/8/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 07 tháng 12 năm 1992; Tại: Đắk Lắk. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Số C T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12. Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Con ông: Nguyễn Văn H1 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Kim S, sinh năm: 1964. Bị cáo chưa có vợ con.
Về nhân thân: Ngày 14/8/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 14/8/2020, chấp hành xong thời gian thử thách của người được hưởng án treo. Đã được xoá án tích.
Ngày 04/6/2024, bị bắt và bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị Ngọc T; sinh năm: 1997 (Có mặt).
Địa chỉ: Số C T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
NỘI DUNG VỤ ÁN
[1] Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn H là người không có việc làm ổn định, vì cần có tiền tiêu sài nên H đã nảy sinh ý định mua ma túy thuốc lắc và ma túy khay về bán lại kiếm tiền lời. Thông qua các mối quan hệ xã hội thì H biết một người nam giới tên thường gọi là “Đại Nam” (chưa xác định được nhân thân lai lịch) là người bán ma túy thuốc lắc và khay. Vào chiều ngày 01/6/2024, H sử dụng điện thoại “Redmi” màu đen, gắn sim số 0869966247 vào ứng dụng “Telegram” liên lạc với “Đại Nam” hỏi mua 02 (hai) viên thuốc lắc và 02 (hai) chấm ma túy khay thì “Đại Nam” đồng ý bán cho H với giá 2.300.000đ (hai triệu ba trăm ngàn đồng). “Đại Nam” giao ma túy cho H ở khu vực đường T giao nhau với đường N, Tp ., tỉnh Đắk Lắk, sau khi mua được ma túy thì H cất trong túi xách màu đen H đeo trên người để khi có khách hỏi mua thì H bán kiếm tiền lời. Vào khoảng 21h45' ngày 03/6/2024, có một người nam giới (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) sử dụng số điện thoại 0839.219.xxx liên lạc với H qua số điện thoại 0869.966.xxx hỏi mua 02 (hai) chấm ma túy khay và 02 (hai) viên thuốc lắc thì H đồng ý bán với giá 3.300.000đ (ba triệu ba trăm ngàn đồng) và hẹn giao dịch tại khu vực đường T, phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk. Đến khoảng 23h00 ngày 03/6/2024, H lấy gói nylon chứa 02 (hai) viên thuốc lắc và 02 (hai) chấm ma túy khay ở trong túi xách màu đen đeo trên người, rồi điều khiển xe máy biển kiểm soát 47AD – 067.36 đi đến điểm hẹn để bán ma túy. Khi H đi đến trước số nhà F N, phường T, Tp., tỉnh Đắk Lắk để bán ma tuý nhưng chưa kịp bán thì bị Lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.
Tại Bản kết luận giám định số: 816/KL-KTHS ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận (Bút lục số 23 ): 02 (hai) viên nén hình chữ nhật màu xám bên trong 01 (một) gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 1,2010gam, loại MDMA; Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong 02 (hai) gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,9812gam, loại Ketamine.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và Bản cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố.
Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Đồng thời, đề nghị HĐXX:
- - Áp dụng dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn H mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
- - Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: Phần còn lại của 02 (hai) viên nén hình chữ nhật màu xám có khối lượng 0,9574gam, chất rắn dạng tinh thể màu trắng có khối lượng 0,9220gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu được niêm phong trong phong bì số 816/KL-KTHS ngày 11/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng “Redmi” màu đen, gắn sim số 086.9966247; số imei: 866101066511063/78 đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Văn H.
Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì đối với hành vi đã thực hiện, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến và khiếu nại về các quyết định và hành vi tố tụng đó. Do vậy, quyết định và hành vi tố tụng của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Căn cứ vào quá trình tranh tụng tại phiên tòa, lời khai nhận của bị cáo và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để khẳng định: Vào ngày 03/6/2024, tại địa bàn phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo Nguyễn Văn H đã có hành vi tàng trữ 1,2010gam ma túy loại MDMA và 0,9812gam ma túy loại Ketamine nhằm mục đích bán kiếm lời là phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm....
[3] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Đồng thời, hành vi của bị cáo còn là một trong những nguyên nhân gây nên các căn bệnh xã hội, các loại tội phạm khác và gây ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội. Bị cáo nhận thức được mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, Tàng trữ, vận chuyển, chiếm đoạt, sử dụng chất ma túy đều bị pháp luật nghiêm cấm. Song xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Nguyễn Văn H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột về phần hình phạt đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc nên cần giảm một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp.
[5] Về các biện pháp tư pháp:
- - Đối với hần còn lại của 02 (hai) viên nén hình chữ nhật màu xám có khối lượng 0,9574gam, chất rắn dạng tinh thể màu trắng có khối lượng 0,9220gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu được niêm phong trong phong bì số 816/KL-KTHS ngày 11/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ là tang vật của vụ án và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
- - Đối với 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng “Redmi” màu đen, gắn sim số 086.9966247; số imei: 866101066511063/78, đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo Nguyễn Văn H sử dụng vào hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- - Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha, màu sơn xám đen, biển kiểm soát 47AD-067.36, số máy: E34NE019057, số khung: RLCUE4240RY012849. Quá trình điều tra xác định xe mô tô trên là tài sản thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị Ngọc T là em ruột của bị cáo H. Việc bị cáo Hưng M, sử dụng chiếc xe nêu trên thực hiện hành vi phạm tội thì chị T không biết nên Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý đối với chị T và ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản trên cho chị Nguyễn Thị Ngọc T quản lý, sử dụng là phù hợp.
[6] Các nội dung khác:
- - Đối với nguồn gốc ma túy trong vụ án, bị cáo H khai nhận mua của người nam giới sử dụng tài khoản “Telegram” tên “Đại Nam”, rồi nhận hàng qua người nam giới tại khu vực đường T giao nhau với đường N, Tp ., tỉnh Đắk Lắk. Đến nay, Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch của người bán ma tuý nêu trên. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra tách hành vi của những người nêu trên khỏi vụ án để tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
- - Đối với 01 người nam giới sử dụng số thuê bao 0839219212 hỏi mua ma tuý của Nguyễn Văn H. Cơ quan điều tra đã gửi yêu cầu xác minh đến công ty V nhưng vẫn chưa có kết quả trả lời. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra tách hành vi của người nam giới nêu trên khỏi vụ án để tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
[2] Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Nguyễn Văn H 03 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, ngày 04/6/2024.
[3] Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: Phần còn lại của 02 (hai) viên nén hình chữ nhật màu xám có khối lượng 0,9574gam, chất rắn dạng tinh thể màu trắng có khối lượng 0,9220gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu, được niêm phong trong phong bì số 816/KL-KTHS ngày 11/6/2024 của Phòng K công an tỉnh Đ.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng “Redmi” màu đen, gắn sim số 086.9966247; số imei: 866101066511063/78, đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Văn H.
(Vật chứng hiện đang lưu trữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột. Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/9/2024 giữa Công an thành phố B với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột).
[5] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hải An |
Bản án số 306/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 306/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H mua bán trái phép chất ma tuý
