TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 306/2024/DS-ST
Ngày 12 - 9 - 2024
V/v tranh chấp hợp đồng cầm cố
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Hồng Xuyên
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Mỹ Linh
Ông Huỳnh Minh Bền
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 420/2024/TLST- DS ngày 26 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng cầm cố, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 354/2024/QĐXXST- DS ngày 05 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty cổ phần S (tên cũ là Công ty TNHH S1); Địa chỉ cư trú: Số A đường N, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hồ Ngọc Q, sinh năm 1990 – Nhân viên. Theo Giấy ủy quyền số 105/2023/UQ-SVN ngày 01/01/2024 (xin vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng A, sinh năm: 1984; Địa chỉ cư trú: Số Nhà không số, ấp A, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án do ông Hồ Ngọc Q– Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 06/02/2021 ông Nguyễn Hoàng A ký hợp đồng với Công ty TNHH S1 chi nhánh C (Nay là Công ty cổ phần S) để cầm cố 01 xe mô tô hai bánh Biển kiểm soát 69B1-569.76, loại Wave 110cc, giấy chứng nhận đăng ký xe tên Nguyễn Hoàng A do Công an tỉnh C cấp ngày 08/01/2021; số tiền cầm cố 11.900.000 đồng, thời hạn cầm 12 tháng, lãi suất thỏa thuận 1,1%/tháng và các khoản phí phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng gồm: Phí quản lý hồ sơ cố định bằng 4% số tiền cầm cố/tháng, Lãi suất quá hạn bằng 4% số tiền quá hạn thanh toán/tháng tính từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn; Phí phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán là 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm, chi phí tố tụng là 10% trên dư nợ gốc, lãi, phí quản lý hồ sơ cố định chưa thanh toán. Công ty đã giao đủ tiền và nhận xe. Do ông A có nhu cầu đi lại nên Công ty đồng ý cho ông A mượn lại xe theo Giấy mượn xe ngày 06/02/2021, thời gian mượn xe từ ngày 06/02/2021 đến ngày 06/03/2021.
Quá trình trả nợ, ông A đã vi phạm hợp đồng không thanh toán bất kỳ khoản nợ gốc và lãi theo thỏa thuận.
Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông A thực hiện nghĩa vụ trả lại xe theo giấy mượn xe; trường hợp không trả thì buộc ông A thanh toán nợ gốc và lãi tính đến ngày 14/6/2024 tổng cộng 42.334.800 đồng, trong đó nợ gốc 11.900.000 đồng, lãi trong hạn 1.570.800 đồng và lãi quá hạn là 22.200.000 đồng, phí quản lý hồ sơ theo hợp đồng 5.712.000 đồng, phí phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán là 952.000đồng; ngoài ra ông A còn chịu các khoản lãi và phí phát sinh từ ngày tiếp theo theo Hợp đồng cầm cố đã ký kết cho đến khi thanh toán xong nợ. Trường hợp ông A không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Công ty có quyền yêu cầu xử lý tài sản cầm cố để thu hồi nợ.
Tại bản tự khai ngày 12/9/2024, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện. Yêu cầu ông Nguyễn Hoàng A trả số tiền gốc cầm cố xe còn nợ là 11.900.000đồng và lãi 5.497.000đ (tính từ ngày 06/3/2021 đến ngày xét xử làm tròn 42 tháng, nhân với lãi suất 1,1%/tháng); ngoài ra không yêu cầu gì thêm.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Nguyễn Hoàng A đầy đủ, đúng theo quy định pháp luật nhưng bị đơn vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến, cũng không có đơn phản tố gửi cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Ông Hồ Ngọc Q là đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Nguyễn Hoàng A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên tòa xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Tại bản tự khai, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu tiền vốn và lãi từ ngày không thanh toán đến ngày xét xử theo mức lãi suất 1,1%/tháng, xét thấy việc thay đổi yêu cầu phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.
[2] Về nội dung: Ngày 06/02/2021 giữa nguyên đơn với bị đơn ký hợp đồng cầm cố 01 xe mô tô hai bánh Biển kiểm soát 69B1-569.76, loại Wave 110cc, giấy chứng nhận đăng ký xe tên Nguyễn Hoàng A do Công an tỉnh C cấp ngày 08/01/2021; số tiền cầm cố 11.900.000 đồng, thời hạn cầm 12 tháng, lãi suất 1,1%/tháng theo hợp đồng là có thực tế. Việc cầm cố tài sản có đăng ký giao dịch bảo đảm. Sau khi ký hợp đồng, bị đơn ký giấy mượn lại xe, thời hạn 30 ngày. Bị đơn vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hợp đồng nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán nợ. Đối với bị đơn ông Nguyễn Hoàng A đã được Toà án tống đạt văn bản hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do và không có văn bản ý kiến gửi đến Toà án nên tự gánh chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Do đó, căn cứ vào hợp đồng cầm cố được ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, xét thấy yêu cầu của nguyên đơn buộc ông A có trách nhiệm trả số nợ gốc là 11.900.000đồng là có căn cứ nên được chấp nhận.
[3] Về yêu cầu tính lãi, nguyên đơn yêu cầu lãi suất theo hợp đồng là 1,1% từ ngày vi phạm là ngày 06/3/2021 đến ngày xét xử làm tròn 42 tháng với số tiền 5.497.000đ là phù hợp với quy định nên được chấp nhận.
Như vậy, tổng gốc và lãi bị đơn có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn là 11.900.000đ + 5.497.000₫ = 17.397.000₫.
Nguyên đơn phải trả lại Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy Biển kiểm soát 69B1-569.76, loại Wave 110cc, giấy chứng nhận đăng ký xe tên Nguyễn Hoàng A do Công an tỉnh C cấp ngày 08/01/2021 cho bị đơn khi bị đơn thanh toán nợ xong cho Công ty.
[4] Án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 238, 244 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 309, 313, 314, 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần S (Công ty TNHH S1). Buộc bị đơn Nguyễn Hoàng A phải thanh toán cho Công ty cổ phần S (Công ty TNHH S1) số tiền 17.397.000 đồng, trong đó tiền vốn là 11.900.000đồng, lãi là 5.497.000đồng.
Kể từ ngày người có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng phải chịu lãi suất chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thanh toán.
Công ty cổ phần S (Công ty TNHH S1) phải trả lại Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy Biển kiểm soát 69B1-569.76, loại Wave 110cc, giấy chứng nhận đăng ký xe tên Nguyễn Hoàng A do Công an tỉnh C cấp ngày 08/01/2021 cho ông A khi ông A thanh toán nợ xong cho Công ty.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn phải chịu 869.000đồng. Nguyên đơn không phải nộp án phí, ngày 24/6/2024 nguyên đơn đã dự nộp tiền tạm ứng án phí 1.106.000 đồng theo biên lai thu số 0008896 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được nhận lại.
Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hồng Xuyên |
Bản án số 306/2024/DS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng cầm cố
- Số bản án: 306/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng cầm cố
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tránh chấp hợp đồng cầm cố
