Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ L

TỈNH AN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 306/2024/DS-ST

Ngày 06 tháng 9 năm 2024

Tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Nam

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Tuấn Phong; Bà Nguyễn Thị Hân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi – Thư ký Tòa án

Ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố L xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 381/2024/TLST-DS ngày 27/6/2024 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 527/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 532/2024/QĐST-DS ngày 14 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1950. Có mặt

    Nơi cư trú: Số C đường T, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

  2. Bị đơn: Bà Lâm Thị Ngọc C, sinh năm 1984. Vắng mặt

    Nơi cư trú: Số A, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 22/5/2024 cùng lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Nguyễn Thị H trình bày: Bà Lâm Thị Ngọc C là con gái của bạn bà H. Bà C có nhu cầu vay tiền làm ăn nên có thỏa thuận vay của bà H số tiền 500.000.000 đồng, lãi suất là 3%/tháng, bà C có ký giấy mượn tiền ngày 17/12/2020. Sau khi vay, bà C có trả lãi vào ngày 17/5/2021 được 75.000.000 đồng và ngày 17/12/2022 được 82.000.000 đồng thì ngưng cho đến nay và cố tình né tránh không trả nợ. Do đó, bà H yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc bà C phải có trách nhiệm trả cho bà H số tiền vay 500.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày từ ngày 17/12/2020 đến ngày 17/5/2024 là 458.000.000 đồng.

Tại bản tự khai ngày 01/8/2024, bị đơn Lâm Thị Ngọc C trình bày: Bà C thừa nhận có vay của bà H số tiền 500.000.000 đồng, do hoàn cảnh gia đình gặp khó khăn nên yêu cầu nguyên đơn không tính lãi trên số tiền vay, tạo điều kiện cho bà C được trả nợ.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Nguyên đơn Nguyễn Thị H yêu cầu bị đơn Lâm Thị Ngọc C phải trả số tiền vay là 500.000.000 đồng, đối với số tiền lãi tính từ ngày 17/12/2020 đến ngày 17/5/2024 là 458.000.000 đồng, bà H thay đổi yêu cầu cho bà C trả lãi 200.000.000 đồng, tổng cộng vốn lãi là 700.000.000 đồng.

Bị đơn vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa, không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng

Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Bị đơn nhận được các văn bản tố tụng do Tòa án cấp tống đạt nhưng vắng mặt trong thời gian chuẩn bị xét xử và lần thứ hai tại phiên tòa, không lý do. Do đó, căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung tranh chấp

[2.1] Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cùng các chứng cứ trong hồ sơ thể hiện: Bị đơn có thỏa thuận vay của nguyên đơn số tiền 500.000.000 đồng, có ký biên nhận vay ngày 17/12/2020, lãi thỏa thuận là 3%tháng. Như vậy, các bên có thỏa thuận giao dịch dân sự bằng hình thức vay và cho vay tài sản, có lãi nhưng không thỏa thuận kỳ hạn trả nợ theo quy định tại Điều 463, Điều 466, Điều 469 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, nguyên đơn cho rằng bị đơn không trả vốn, lãi theo thỏa thuận, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn về tài sản và bị đơn thừa nhận có vay tiền của nguyên đơn nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên không thanh toán được nợ. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận.

[2.2] Đối với yêu cầu tính lãi trên tiền vay, thời gian tính lãi từ ngày 17/12/2020 đến ngày 17/5/2024 là 458.000.000 đồng nhưng tại phiên tòa, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bị đơn phải trả số tiền lãi 200.000.000 đồng. Xét thấy, tại giấy mượn tiền ngày 17/12/2020, các bên thỏa thuận lãi suất 3%/tháng, thỏa thuận này vượt quá 20%/năm theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 nên điều chỉnh lãi theo quy định pháp luật, đồng thời xác định thời gian tính lãi kể từ ngày Tòa án thụ lý vụ án trong trường hợp các bên không thỏa thuận thời gian trả nợ nên việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền lãi 200.000.000 đồng là chưa phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 5, điềm a khoản 1 Điều 6 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2029 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, lãi vi phạm. Do đó, Hội đồng xét xử xác định thời gian bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả tiền vay kể từ ngày Tòa án thụ lý vụ án là ngày 27/6/2024 đến ngày xét xử 06/9/2024 là 02 tháng 10 ngày x số tiền vay 500.000.000 đồng x 20%/năm (1,66%/tháng) = 19.090.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền vốn, lãi bị đơn phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền là 519.090.000 đồng.

Đối với số tiền lãi 157.000.000 đồng, nguyên đơn thừa nhận đã nhận của bị đơn. Xét thấy, từ ngày vay 17/12/2021 đến ngày khởi kiện 22/5/2024 thì số tiền lãi nêu trên được tính theo quy định pháp luật không vượt quá số tiền lãi bị đơn phải có nghĩa trả cho nguyên đơn, đồng thời bị đơn không yêu cầu nên không xét đến.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận một phần nên nguyên đơn phải chịu án phí đối với phần yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 68, khoản 1 Điều 147, Điều 244, Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 278 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 469 Bộ luật Dân sự 2015;
  • Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9 và Điều 30 Luật Thi hành án dân sự;
  • Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2029 của HĐTP TANDTC;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và án phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đới với bị đơn

    Buộc bà Lâm Thị Ngọc C có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị H số tiền 519.090.000 đồng, trong đó tiền vay là 500.000.000 đồng, tiền lãi là 19.090.000 đồng.

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị H về việc buộc bị đơn Lâm Thị Ngọc C phải trả số tiền lãi 180.910.000 đồng (200.000.000 đồng – 19.090.000 đồng).
  3. Về án phí sơ thẩm

    Nguyên đơn Nguyễn Thị H phải nộp 9.045.500 đồng án phí dân sự đối với phần yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận. Tuy nhiên, bà H là người trên 60 tuổi và có đơn xin miễn nộp án phí theo quy định tại Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326//2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH nên bà H được miễn nộp án phí nêu trên.

    Bị đơn Lâm Thị Ngọc C phải nộp 24.763.600 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo

    Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

    Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

    (Giải thích Điều 26 Luật Thi hành án dân sự)

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Tp.L;
  • - Chi cục THADS Tp.L;
  • - Phòng KTNV - TAND tỉnh An Giang;
  • - Lưu hồ sơ + VP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Quốc Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 306/2024/DS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH AN GIANG về hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 306/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger