|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 306/2025/HS-ST Ngày: 13-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Xuân Lang
- Ông Phạm Văn Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Hồng - Kiểm sát viên
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 315/TLST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2531/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
THP; (tên gọi khác: PHT) Giới tính: Nam; Sinh ngày 14/7/1981 tại Hoa Kỳ; Nơi thường trú: Hoa Kỳ; Nơi cư trú: Căn hộ 00X khu LVR, địa chỉ XX/YY Đường số XX, Khu phố Y, phường AK, thành phố TĐ, TPHCM; Nghề nghiệp: Giám đốc điều hành Công ty T; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Hoa Kỳ; Tôn giáo: Công giáo; Con ông THP và bà XTN; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giam từ ngày 07/6/2024. (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo THP: Luật sư Trịnh Duy Thanh, Công ty Luật TNHH Đức Khang, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh;
(Có mặt).
- Người phiên dịch: Bà Lê Nguyễn Anh Thư thuộc Công ty dịch thuật Phương Tây (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 12 giờ 30 phút ngày 02/6/2024, NXN đến Công an phường An Khánh, thành phố Thủ Đức trình báo việc THP có hành vi sử dụng và cất giấu trái phép chất ma túy tại nhà, sau đó xảy ra mâu thuẫn dẫn đến xô xát với N. Vào lúc 19 giờ 00 cùng ngày, tại nơi ở của THP, địa chỉ căn hộ 00X, khu LVR, XX/YY Đường số XX, Khu phố Y, phường AK, thành phố TĐ, Công an thành phố Thủ Đức tiến hành kiểm tra và thu giữ trên kệ bếp 01 gói nylon chứa 02 viên nén màu xanh là ma túy có khối lượng 0,7399g, loại MDMA và trong tủ quần áo 01 vỏ bình khí kim loại màu xanh có van (thể hiện tại Kết luận giám định số 6809/KL-KTHS ngày 12/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh).
THP khai nhận số ma túy P cất giấu để sử dụng, nên ngày 06/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Thủ Đức đã thực hiện lệnh bắt bị can để tạm giam đối với THP về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Kết quả điều tra xác định:
Khoảng hai tuần trước khi bị bắt, THP đến Club 11.11 địa chỉ số XXX NTH, phường PNL, Quận Y gặp một nam thanh niên (không rõ lai lịch) mua 03 viên nén màu xanh với giá 600.000 đồng, đem về nhà cất giấu để sử dụng.
Tối ngày 01/6/2024, NXN đến căn hộ của THP chơi, ngủ lại qua đêm. Trong đêm 01/6/2024 đến sáng ngày 02/6/2024, vì muốn sử dụng bóng cười nên N đã liên hệ người có tài khoản zalo là “Hồng Quân” mua bình khí cười với giá 1.150.000 đồng để cả hai cùng sử dụng, THP là người trả tiền. Sau khi sử dụng bóng cười, THP lấy 01 viên ma túy ra sử dụng, còn lại 02 viên THP bỏ vào bịch nylon đựng nhiều loại thuốc tây khác và cất giấu vào rổ nhựa màu vàng trên kệ bếp. Sau đó, THP và N có mâu thuẫn nên đến sáng ngày 02/6/2024, N đã đến Công an phường An Khánh trình báo, tố giác việc THP sử dụng, cất giữ ma túy tại nhà. Đến khoảng 13 giờ 00 cùng ngày, khi THP đang đứng trước Villa đón xe Taxi để ra sân bay đi công tác thì Công an phường An Khánh mời về trụ sở làm việc và khám xét nhà của T thu giữ số ma túy nêu trên.
Đối với AND thu trên vỏ gói nylon chứa ma túy thu giữ được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức đã trưng cầu Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh giám định. Kết quả trên vỏ gói nylon thu giữ được ADN của NXN, không phát hiện ADN của THP. NXN khai nhận tối ngày 01/6/2024, sau khi T uống viên nén, N tò mò nên đã hỏi T đưa N xem gói nylon chứa viên nén để xem, N đã cầm vào gói nylon này nhưng không sử dụng.
Kết quả xét nghiệm, THP dương tính với ma túy loại Amphetamine, Methamphetamine, MDMA; NXN có kết quả âm tính với chất ma túy.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo THP đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu ở trên.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) gói niêm phong số 2042/24. Bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Xuân Sang và cán bộ điều tra Nguyễn Thị Phương Mai bên trong là ma túy còn lại sau giám định.
- 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên Vũ Việt Hoài Thành và cán bộ điều tra Trần Thu Hằng là mẫu hoàn trả sau giám định AND vụ 3544/KL-KTHS ngày 08/7/2024.
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung có gắn sim số xxxxxxxxxx.
- 01 vỏ bình kim loại.
Tại bản Cáo trạng số 247/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 14 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố THP về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bị cáo THP khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng ghi nhận.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố; sau khi phân tích tính chất, mức độ của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: THP từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 07/6/2024.
Về xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Luật sư thống nhất với tội danh, điều khoản Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Bị cáo là người nước ngoài chưa nhận thức được đầy đủ về pháp luật Việt Nam, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Suốt quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo không nghiện ma túy, lần đầu sử dụng ma túy là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tuyên cho bị cáo mức hình phạt bằng với thời gian bị cáo đã tạm giam cũng đã đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
Kiểm sát viên đối đáp: Bị cáo THP có trình độ học vấn là thạc sỹ, luật sư cho rằng bị cáo có nhận thức chưa đầy đủ về pháp luật là không phù hợp. Đối với mức hình phạt đề nghị là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo bảo lưu quan điểm bào chữa không tiếp tục đối đáp.
Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại đối với các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về nội dung, quá trình điều tra vụ án và xét hỏi tại phiên tòa thể hiện lời khai của bị cáo phù hợp với vật chứng thu được, bản kết luận giám định, cùng các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án ... Hội đồng xét xử có căn cứ xác định: Lúc 19 giờ ngày 02/6/2024, Công an phường An Khánh, thành phố Thủ Đức phối hợp Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra tại Căn hộ 00X khu LVR, địa chỉ XX/YY Đường số XX, Khu phố Y, phường AK, thành phố TĐ, TPHCM, bắt quả tang bị cáo THP cất giấu ma túy trên kệ bếp để sử dụng có khối lượng 0,7399 gam loại MDMA.
Hành vi trên của bị cáo THP đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” thuộc trường hợp “Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy; là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm về ma túy và tệ nạn xã hội khác, gây ra hậu quả nặng nề cho xã hội, nên cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo có nghề nghiệp ổn định nên áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Các lập luận trên đây cũng là căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và một phần lời bào chữa của luật sư.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) gói niêm phong số 2042/24. Bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Xuân Sang và cán bộ điều tra Nguyễn Thị Phương Mai bên trong là ma túy còn lại sau giám định; 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên Vũ Việt Hoài Thành và cán bộ điều tra Trần Thu Hằng là mẫu hoàn trả sau giám định AND vụ 3544/KL-KTHS ngày 08/7/2024; 01 vỏ bình kim loại, là vật nhà nước cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung có gắn sim số xxxxxxxxxx, là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
[6] Các vấn đề khác:
- Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ theo quy định.
- Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: THP 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 07/6/2024.
2. Căn cứ Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) gói niêm phong số 2042/24. Bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Xuân Sang và cán bộ điều tra Nguyễn Thị Phương Mai bên trong là ma túy còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định; 01 gói niêm phong (mẫu hoàn trả sau giám định AND vụ 3544/KL-KTHS ngày 08/7/2024) bên ngoài có chữ ký của giám định viên Vũ Việt Hoài Thanh và cán bộ điều tra Trần Thu Hằng; 01 vỏ bình kim loại.
- Trả lại cho bị cáo THP: 01 điện thoại di động hiệu Samsung có gắn sim số xxxxxxxxxx (màn hình bể, không kiểm tra được đời máy, Imei, sim số do không có nguồn điện, không kiểm tra được tình trạng máy móc bên trong).
(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2025/438 ngày 11/6/2025 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).
3. Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án,
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Vân |
Bản án số 306/2025/HS-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 306/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt: THP 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù
