Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 306/2025/DS-PT

Ngày: 04-6-2025

“V/v Tranh chấp ranh đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Tuyền

Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Quán

Ông Đinh Tiền Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Nhật Châu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Phạm Khánh- Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 45/2024/TLPT-DS ngày 10 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp ranh đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 467/2024/DS-ST ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 73/2025/QĐ-PT ngày 23 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Bà Huỳnh Thị D, sinh năm 1948;
  2. Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1954;
  3. Cùng địa chỉ: ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

  4. Ông Huỳnh Ngọc Ẩ, sinh năm 1950;
  5. Địa chỉ: ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

  6. Bà Huỳnh Hữu H1, sinh năm 1959 (Huỳnh Hữu H1, sinh năm 1957);
  7. Địa chỉ: ấp D, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.

  8. Bà Huỳnh Thế L, sinh năm 1964;
  9. Địa chỉ: Ô, Khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn bà D, ông Ẩ, bà H, bà H1 và bà L: Bà Dương Thị Kim T, sinh năm 1963. Địa chỉ: Số B - Ô khu B, thị trấn H huyện Đ, tỉnh Long An (giấy ủy quyền ngày 07/7/2020).

- Bị đơn: bà Phạm Thị K, sinh năm 1941;

Địa chỉ: Khu V, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An.

Địa chỉ: Ô, khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.

Người đại diện là ông Trương Minh H2 – chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện.

- Người kháng cáo: Bị đơn bà Phạm Thị K.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 29/6/2023 của nguyên đơn và cùng những lời trình bày của người đại diện ủy quyền như sau:

Khi còn sống cha mẹ của các nguyên đơn bà Huỳnh Thị D, bà Huỳnh Thị H, ông Huỳnh Ngọc Ẩ, bà Huỳnh Hữu H1, bà Huỳnh Thế L là bà Võ Thị L1 và ông Huỳnh Văn C có sử dụng diện tích đất là khoảng hơn 1,5 hecta, đất tọa lạc tại ấp D xã H, huyện Đ, tỉnh Long An. Năm 1997, bà Võ Thị L1 được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tổng diện tích là 16.414m² gồm các thửa 2185, 2260, 2261, cùng tờ bản đồ số 4 và thửa 52, 153, cùng tờ bản đồ số 6, tất cả đều tọa lạc tại ấp D, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An. Trong đó, thửa 2185 có diện tích là 1.207 m² giáp ranh với thửa số 2186 của bà Phạm Thị K. Giáp ranh thửa đất số 2185 và thửa 2186 gia đình phía nguyên đơn có đắp bờ ranh, chiều ngang khoảng 2m, chiều dài khoảng 40m trên toàn bộ diện tích đất thửa 2185 để làm ranh giới và sử dụng đất từ năm 1978 không có tranh chấp.

Sau khi bà L1 chết các nguyên đơn tạm giao cho bà H1 quản lý nhưng gần đây phía bà K thuê K1 san lắp mặt bằng lấn sang thửa đất số 2185 (bà L1 đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu bị đơn trả lại hiện trạng như ban đầu nhưng bà K không đồng ý. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bà K phải trả cho nguyên đơn diện tích đất 130m² thuộc thửa đất số 2185 (mpt), hiện nay là thửa đất số 433 (mpt), tờ bản đồ số 27, đất tọa lạc tại ấp D, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (thuộc khu C, Mảnh trích đo địa chính số 398-2023 của Công ty TNHH Đ được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 25/9/2023).

Bị đơn là bà Phạm Thị K vắng mặt không có lý do.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân huyện Đ trình bày tại Công văn số 7612/UBND-TA ngày 20/5/2024 trình bày như sau: Nguồn gốc, trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà L1 và ông Huỳnh Văn C tại thửa đất số 2185, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc xã H và tại thửa đất số 2186, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc xã H của bà K theo sổ mục kê lưu trữ tại Ủy ban nhân dân xã H thể hiện thửa 2185, tờ bản đồ số 4 do bà L1 đứng tên chủ sử dụng đất; thửa 2186, tờ bản đồ 4 do bà K đứng tên chủ sử dụng đất. Về quá trình sử dụng đất: Thửa 2185, tờ bản đồ số 4 do bà H1 (con bà Võ Thị L1) quản lý sử dụng. Thửa 2186, tờ bản đồ số 4 do bà K quản lý sử dụng, trước năm 2006 trồng mía, từ sau năm 2006 đến nay không còn trồng mía, trên đất cây mọc tạp.

Các đương sự thống nhất biên bản thẩm định ngày 03/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, Chứng thư thẩm định giá ngày 28/8/2024 của Công ty cổ phần T1. Mảnh trích đo địa chính số 398/2023 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 25/09/2023.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải để các đương sự tự thỏa thuận với nhau nhưng không kết quả. Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 467/2024/DS-ST ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đã căn cứ vào Điều 5; Điều 26, Điều 27; điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39; Điều 74; Điều 92; Điều 147; Điều 157; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 264 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 166, Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà D, bà H, ông Ẩ, bà H1, bà L đối với bà K về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất là ranh đất”.

Buộc bà K có nghĩa vụ trả cho bà D, bà H, ông Ẩ, bà H1, bà L phần đất tại khu C có diện tích 130m² thửa đất số 2185 (mpt) hiện nay là thửa đất số 433 (mpt), tờ bản đồ số 27, đất tọa lạc tại ấp D, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An do bà L1 đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Vị trí khu C theo Mảnh trích đo địa chính số 398-2023 của Công ty TNHH Đ được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 25/9/2023.

Về lệ phí đo vẽ và chi phí thẩm định, định giá tài sản: Buộc bà K phải chịu 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng. Do các nguyên đơn đã nộp tạm ứng và chi phí xong nên buộc bà K có nghĩa vụ trả cho bà D, bà H, ông Ẩ, bà H1, bà L số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.

Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà K phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Bà D, bà H, ông Ẩ, bà H1, bà L không phải chịu tiền án phí. Hoàn trả cho bà L 1.000.000 (một triệu) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007137 ngày 11/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong giai đoạn thi hành án.

Bản án chưa có hiệu lực pháp luật.

Ngày 03 tháng 12 năm 2024, bị đơn bà K kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo theo hướng sửa Bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cho bà K được quyền kê khai đăng ký phần diện tích đất tranh chấp tại vị trí khu C.

Bị đơn bà K có lời trình bày: Bờ ranh tranh chấp tại vị trí khu C do bà quản lý sử dụng, sau đó cho thuê thửa 2186 có tiến hành đắp bờ làm ruộng, sau này có thuê Kobe đắp bờ rộng hơn để giữ mồ mã. Giáp ranh 02 thửa tại vị trí khu C có trụ cột do phía bà cắm dưới sự giám sát và đồng ý của ông C, không ai tranh chấp khi bà đắp bờ ranh. Tại cấp sơ thẩm bà không có yêu cầu công nhận cho bà tại vị trí khu C do không biết. Bà đồng ý yêu cầu chia đôi vị trí khu C để hai bên đều có bờ ranh sử dụng.

Nguyên đơn do bà T đại diện theo ủy quyền trình bày: Không đồng ý yêu cầu kháng cáo của bà K. Xác định vị trí khu C thuộc quyền sử dụng hợp pháp của nguyên đơn, bà L1 được Ủy ban cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 2185 năm 1997 cùng thời điểm bà K được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 2186. Cả hai sử dụng ổn định không tranh chấp, phía bà K trình bày có trụ ranh tại vị trí C nhưng không có căn cứ chứng minh trụ ranh thể hiện sự thống nhất ranh đất giữa hai bên nên không có căn cứ trụ cây do bà K cắm là ranh đất giữa các bên, không đồng ý chia đôi vị trí khu C.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu:

Cấp phúc thẩm thực hiện đúng pháp luật về tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình. Bị đơn kháng cáo đúng quy định tại các Điều 273, Điều 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên đủ điều kiện xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về yêu cầu kháng cáo: Vị trí tranh chấp khu C do bà L1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo biên bản xem xét thẩm định của Tòa án thể hiện giáp ranh vị trí C là phần đất trống bỏ hoang, bờ ranh mọc cỏ. Bà K không có căn cứ chứng minh vị trí C do bà quản lý và sử dụng. Công văn số 7612/UBND-TA ngày 20/5/2024. Căn cứ vào biên bản xem xét thẩm định ngày 20/5/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An có căn cứ xác định vị trí C thuộc quyền quản lý và sử dụng của nguyên đơn nên yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà K không có căn cứ chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Bị đơn bà K kháng cáo hợp lệ nên vụ án được xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: Bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Căn cứ phạm vi xét xử phúc thẩm quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét nội dung vụ án có liên quan đến kháng cáo.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo thấy rằng: Xét về nguồn gốc phần đất tranh chấp 130m² thửa đất số 2185 (mpt) hiện nay là thửa đất số 433 (mpt) tờ bản đồ số 27, đất tọa lạc tại ấp D, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An tại vị trí khu C theo Mảnh trích đo địa chính số 398-2023 của Công ty TNHH Đ được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 25/9/2023, bà L1 được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12/9/1997 và thửa 2186 tờ bản đồ 4 do bà K đứng tên chủ sử dụng đất vào năm 1997. Quá trình quản lý sử dụng ổn định không ai tranh chấp. Tuy nhiên, về sau do hai bên không xác định được ranh giữa hai thửa đất, bà K cho rằng phần diện tích đất tranh chấp là phần đất thuộc thửa đất của bà K, nguyên đơn không đồng ý và cho rằng phần diện tích đất tranh chấp thuộc 2185 (mpt) hiện nay là thửa đất số 433 (mpt) tờ bản đồ số 27, đất tọa lạc tại ấp D, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An là của nguyên đơn do bà L1 đứng tên quyền sử dụng đất.

[3.1] Quá trình sử dụng đất, bị đơn bà K thừa nhận phần đất tranh chấp hiện nay do bà H1 đang quản lý và sử dụng, sự thừa nhận này phù hợp với ý kiến của nguyên đơn và phù hợp với ý kiến của Ủy ban nhân dân huyện Đ tại Công văn số 7612/UBND-TA ngày 20/5/2024. Căn cứ vào biên bản xem xét thẩm định ngày 20/5/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An thể hiện phần đất tranh chấp tại vị trí khu C là bờ ranh giáp thửa 2185 (433) và 2186, thửa 2185 và 2186 là phần đất ruộng các bên bỏ hoang cỏ mọc, trên bờ tại vị trí khu C cỏ mọc. Giáp phía bờ ranh 02 bên thửa 2185 là phần ruộng thấp so với bờ ranh khoảng 0,25m, giáp bờ ranh thửa 2186 là phần đường mương nước thấp so với bờ ranh là 0,5m. Bà K trình bày vị trí tại khu C của bà nhưng theo hiện trạng thực tế không có căn cứ chứng minh bà K đang sử dụng và theo ranh địa chính thì vị trí khu C do bà L1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1997 cùng thời điểm bà K được cấp giấy đối với thửa giáp ranh là 2186 nhưng từ năm 1997 đến nay bà K không có khiếu nại đối với việc Ủy ban cấp giấy chứng nhận QSDĐ thửa 2185 cho bà L1. Tại phiên tòa, bà K yêu cầu chia đôi vị trí khu C nhưng nguyên đơn không đồng ý và không thỏa mãn điều kiện quy định tại Quyết định số 49/2024/QĐ-UBND ngày 25/10/2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh L quy định về điều kiện tách thửa, hợp thửa đất và diện tích tối thiểu được tách thửa trên địa bàn tỉnh Long An nên không có căn cứ để xem xét.

[4] Từ nhận định mục [3], không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà K. Lời đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An có căn cứ chấp nhận.

[5] Về chi phí xem xét thẩm định cấp phúc thẩm: Buộc bà K phải chịu 2.700.000 đồng (đã nộp xong).

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà K có đơn xin miễn án phí thuộc trường hợp người cao tuổi nên có căn cứ chấp nhận.

[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn bà K phải chịu theo Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bà K có đơn xin miễn án phí thuộc trường hợp người cao tuổi nên có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị K.

Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 467/2024/DS-ST ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đối với phần miễn án phí cho bà Phạm Thị K.

Căn cứ vào Điều 5; Điều 26, Điều 27; điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39; Điều 74; Điều 92; Điều 147; Điều 157; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 264 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 166, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ Điều 166, Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị D, bà Huỳnh Thị H, ông Huỳnh Ngọc Ẩ, bà Huỳnh Hữu H1, bà Huỳnh Thế L đối với bị đơn bà Phạm Thị K về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất là ranh đất”.
  2. Buộc bà Phạm Thị K có nghĩa vụ trả cho bà Huỳnh Thị D, bà Huỳnh Thị H, ông Huỳnh Ngọc Ẩ, bà Huỳnh Hữu H1, bà Huỳnh Thế L phần đất tại khu C có diện tích 130m² thửa đất số 2185 (mpt) hiện nay là thửa đất số 433 (mpt), tờ bản đồ số 27, đất tọa lạc tại ấp D, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An do bà Võ Thị L1 đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    Vị trí khu C theo Mảnh trích đo địa chính số 398-2023 của Công ty TNHH Đ được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 25/9/2023.

  3. Về lệ phí đo vẽ và chi phí thẩm định, định giá tài sản: Buộc bà Phạm Thị K phải chịu 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng. Do các nguyên đơn đã nộp tạm ứng và chi phí xong nên buộc bà Phạm Thị K có nghĩa vụ trả cho bà Huỳnh Thị D, bà Huỳnh Thị H, ông Huỳnh Ngọc Ẩ, bà Huỳnh Hữu H1, bà Huỳnh Thế L số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.
  4. Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị K được miễn án phí. Bà Huỳnh Thị D, bà Huỳnh Thị H, ông Huỳnh Ngọc Ẩ, bà Huỳnh Hữu H1, bà Huỳnh Thế L không phải chịu. Hoàn trả cho bà Huỳnh Thế L 1.000.000 (một triệu) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007137 ngày 11/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
  6. Về chi phí xem xét thẩm định cấp phúc thẩm: Buộc bà Phạm Thị K phải chịu 2.700.000 đồng (đã nộp xong).
  7. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Phạm Thị K được miễn án phí.
  8. Án xử công khai phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay sau khi tuyên án.
  9. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP.Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Đức Hòa;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Bích Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 306/2025/DS-PT ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp ranh đất

  • Số bản án: 306/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị D “Tranh chấp ranh đất” Phạm Thị K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger