Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH TÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 306/2024/HS-ST

Ngày 08-11-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Ái;
  • Các Hội thẩm nhân dân: ông Đinh Minh Hoàng và Lê Văn Khanh.

- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Trà My-Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Thanh Hòa-Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 316/2024/TLST-HS, ngày 08 tháng 10 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 405/2024/QĐXXST-HS, ngày 25 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1991, tại tỉnh Kiên Giang. Nơi thường trú: nhà số A, đường N, Khu phố B, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; nơi ở: không ổn định; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Quang M và bà Nguyễn Thị Kim C; có chồng (không có đăng ký kết hôn) và 05 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh ngày 06/4/2024; tiền án: ngày 26/4/2022, bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 03 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản” (đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 12/8/2022 và Quyết định khác ngày 29/8/2022, án tích chưa được xóa); tiền sự: không có; nhân thân: ngày 09/9/2004, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã R, tỉnh Kiên Giang ra Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng 24 tháng (do sống lang thang và đã chấp hành xong Quyết định ngày 17/9/2006, được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính); ngày 01/4/2007, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã V, tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng 24 tháng về hành vi “xâm phạm tài sản của công dân” (đã chấp hành xong Quyết định ngày 01/4/2009, được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính); ngày 16/9/2011, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản” (do bản này đã hết thời hiệu thi hành nên không được coi là có án tích); ngày 17/7/2013, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh 24 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (đã chấp hành xong Quyết định ngày 25/4/2015, được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính); ngày 11/10/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố H áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (đã chấp hành xong Quyết định ngày 05/02/2018, được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính); bị bắt tạm giữ ngày 07-11-2023, tạm giam ngày 16-11-2023 “có mặt”.

*Các bị hại:

  1. Chị Lưu Thị L, sinh năm 2004. Nơi thường trú: Xóm D, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: nhà số A, đường L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”;
  2. Chị Lê Nguyễn Trung Thùy D, sinh năm 2003. Nơi thường trú và cư trú: nhà số A, Tổ A, Ấp D, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng nên Nguyễn Thị Thanh T nảy sinh ý định đến chỗ nhiều người là Bến xe M để có cơ hội thuận lợi chiếm đoạt tài sản. Khi đó vào khoảng 08 giờ 45 phút ngày 29/4/2023, T đến trước Quầy bán vé Số 32-Nhà xe P-Bến xe M, số C, đường K, Khu phố F, phường A, quận B nhìn thấy chị Lưu Thị L đang đứng mua vé xe và trong túi áo khoác bên phải của chị L đang mặc có để 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu tím nên T liền áp sát bên phải còn cách chị L khoảng 0,5 mét và dùng tay phải choàng qua lấy chiếc điện thoại này của chị L cất vào trong túi áo khoác bên trái đang mặc rồi đi ra đến khu vực nhà xe cách đó khoảng 20 mét thì tắt nguồn máy điện thoại; còn chị L đến phòng bảo vệ Bến xe trình báo. Qua kiểm tra camera an ninh tại Quầy bán vé Số 32, đã phát hiện T là người lấy chiếc điện thoại di động của chị L và đang đứng gần khu vực nhà xe nên mời T vào phòng làm việc. Qua làm việc, T đã khai nhận toàn bộ hành vi như vừa mới nêu trên nên báo cho Công an phường A đến lập hồ sơ xử lý ban đầu rồi sau đó chuyển cho Cơ quan điều tra giải quyết theo thẩm quyền. Do T hiện đang có thai nên ngày 19/9/2023 nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định khởi tố vụ án, bị can và chỉ áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với T. Tuy nhiên trong quá trình được tại ngoại điều tra thì T đến Bệnh viện quận B tiếp tục thực hiện hành vi tương tự như trên, cụ thể như sau:

Vào khoảng 11 giờ 50 phút ngày 07/11/2023, T đến khu vực Đăng ký khám chữa bệnh-Bệnh viện quận B tại số H, đường H, phường B, quận B để tìm tài sản chiếm đoạt. Khi đó, T nhìn thấy trong túi áo blouse trắng bên trái của chị Lê Nguyễn Trung Thùy D (thực tập sinh Bệnh viện) đang mặc có để chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh rêu 256GB nhô ra ngoài và đi ra hướng cổng chính nên T liền đi theo phía sau chị D rồi vượt lên trước cách chị D khoảng 02 bước chân thì quay người lại đứng đối diện sát chị D và dùng tay phải rút lấy chiếc điện thoại của chị D chuyển sang cầm bên tay trái rồi vừa bước đi ra hướng cổng chính thì bị chị D phát hiện và dùng tay trái nắm giữ T, còn tay phải tước lấy lại chiếc điện thoại mà T đang cầm trên tay trái. Lúc này, T giật tay ra, bỏ chạy vào hướng Khu khám chữa bệnh, chị D và người bạn là chị Phạm Lê Nhật L1 đuổi theo đến trước Phòng khám răng, hàm, mặt thì bắt giữ được T giao cho Công an phường B xử lý người có hành vi phạm tội quả tang. Sau khi tiếp nhận và lập hồ sơ ban đầu xong, Công an phường B đã chuyển cho Cơ quan điều tra giải quyết theo thẩm quyền. Tại đây, T đã khai nhận toàn toàn bộ hành vi như vừa mới nêu trên.

Theo các kết luận địnhgiá tài sản thì: chiếc điện thoại di động của chị L1 trị giá 5.000.000 đồng và của chị D là 10.020.000 đồng (trong đó, điện thoại 10.000.000 đồng, còn ốp lưng điện thoại 20.000 đồng). Đối với 02 chiếc điện thoại di động này, do Cơ quan điều tra đã thu hồi giao trả lại cho các chị L1 và D nên cả 02 chị đều không ai yêu cầu T bồi thường thiệt hại gì thêm.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Thị Thanh T đã khai nhận: do cần có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng nên bị cáo nảy sinh ý định đến chỗ đông người để có cơ hội thuận lợi chiếm đoạt tài sản và khi đó, bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi này, cụ thể lần thứ nhất (đang mang thai lần thứ 4 và sinh con vào ngày 08/5/2023): khi bị cáo vào trước Quầy bán vé Số 32-Nhà xe P-Bến xe M nhìn thấy chị Lưu Thị L đang đứng mua vé xe và trong túi áo khoác của chị L đang mặc có để 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu tím nên bị cáo liền áp sát bên phải chị L và dùng tay phải choàng qua lấy chiếc điện thoại này của chị L cất vào trong túi áo khoác đang mặc rồi liền rời khỏi đó khoảng 20 mét tắt nguồn máy điện thoại thì bị bảo vệ phát hiện bắt giữ cùng với chiếc điện thoại vừa lấy được của chị L. Lần thứ hai (đang mang thai lần thứ 5 và sinh con vào ngày 06/4/2024): khi bị cáo vào trước khu vực Đăng ký khám chữa bệnh-Bệnh viện quận B thì bị cáo nhìn thấy trong túi áo blouse trắng bên trái của chị Lê Nguyễn Trung T1 D đang mặc có để chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh rêu 256GB nhô ra ngoài nên bị cáo liền đi theo phía sau chị D rồi vượt lên trước cách chị D khoảng 02 bước chân, bị cáo quay người lại đứng đối diện sát chị D và dùng tay phải rút lấy chiếc điện thoại của chị D chuyển sang cầm bên tay trái rồi vừa bước ra hướng cổng chính thì bị chị D phát hiện bắt giữ cùng với vật chứng giao cho Công an giải quyết nên nay bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Đồng thời, không có ý kiến gì về giá trị tài sản của 02 chị L và D và trách nhiệm dân sự; riêng về các tài sản của bị cáo còn bị tạm giữ thì bị cáo không yêu cầu nhận lại mà đề nghị tiêu hủy.

Tại Cáo trạng số: 295/CT-VKS, ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thanh T ra trước Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử về “Tội trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận có ý kiến: bị cáo Nguyễn Thị Thanh T đã 02 lần thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác, trong đó: Lần thứ nhất, là chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu tím trị giá 5.000.000 đồng của chị Lưu Thị L; lần thứ hai, là chiếc thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu xanh rêu 256GB trị giá 10.020.000 đồng của chị Lê Nguyễn Trung Thùy D (tổng trị giá tài sản 15.020.000 đồng). Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội lại còn phải chịu các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm” nên cần phải xử bị cáo với mức án thật nghiêm và tương xứng. Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và phạm tội khi đang có thai, nghĩ nên xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Do đó, giữ nguyên quyết định đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm n, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo với mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản”. Còn về trách nhiệm dân sự, do các bị hại đã được nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và đều không có ai yêu cầu gì thêm nên không có ý kiến. Riêng về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu huy gồm: 01 cái túi xách, 01 cái ba lô, 02 cái áo khoác, 01 đôi giày, 01 cái nón, 01 cái quần và 02 cái áo.

Bị cáo không tranh luận và bào chữa gì về hành vi đã bị truy tố; còn lời nói sau cùng thì xin giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra-Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo và các bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo Nguyễn Thị Thanh T tại phiên tòa hôm nay cho thấy, bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, cụ thể lần thứ nhất: vào lúc 08 giờ 45 phút ngày 29/4/2023, là chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu tím của chị Lưu Thị L tại trước Quầy bán vé xe Số 32-Nhà xe P-Bến xe M, số C, đường K, Khu phố F, phường A, quận B; lần thứ hai: vào khoảng 11 giờ 50 phút ngày 07/11/2023, là chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh rêu 256GB của chị Lê Nguyễn Trung T1 Dung tại Bệnh viện quận B, số H, đường H, phường B, quận B. Theo các kết luận định giá tài sản số: 184/KL-HĐĐGTS, ngày 07/6/2023 và số: 402/KL-HĐĐGTS, ngày 13/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự quận B thì, chiếc điện thoại di động của chị L trị giá 5.000.000 đồng, còn chiếc thoại di động của chị D trị giá 10.020.000 đồng (tổng trị giá tài sản 15.020.000 đồng). Do đó, bị cáo Nguyễn Thị Thanh T đã phạm “Tội trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai trước đây tại Cơ quan điều tra, lời khai của các bị hại, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ được; hình ảnh trích xuất từ camera an ninh tại hiện trường; biên bản, bản ảnh khám nghiệm hiện trường, bị cáo diễn lại hành vi; kết luận định giá tài sản...nên đã đủ chứng cứ buộc tội bị cáo và lời đề nghị của Kiểm sát viên vừa nêu trên là có cơ sở chấp nhận.

[4] Xét bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của người khác, thực hiện hành vi chiếm đoạt trái phép tài sản là trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo tuy ít nghiêm trọng nhưng đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích có tiền để mua ma túy sử dụng; đồng thời, đã 02 lần thực hiện hành vi này với tài sản của mỗi lần đều trị giá trên 2.000.000 đồng nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” và đồng thời đã bị kết án, chưa được xóa án tích, nay lại thực hiện hành vi phạm tội mới do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm”, theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015; ngoài ra, bị cáo còn đã 04 bị áp dụng biện khác xử lý hành chính và 01 lần bị kết án khác nên cần phải xử bị cáo với mức án thật nghiêm và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo đã gây ra thì mới có đủ sức giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đồng thời theo kết quả siêu âm ngày 30/4/2023 của Bệnh viện 30/4, kết luận bị cáo có “một thai sống trong lòng tử cung 35 tuần” và theo Phiếu siêu âm ngày 07/11/2023 của Bệnh viện quận B, kết luận bị cáo có “01 thai sống trong lòng tử cung khoảng 18 tuần”, vậy trong cả 02 lần phạm tội bị cáo đều đang có thai nên cần được xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm n, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”; do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp và điều kiện kinh tế nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: xét tại phiên tòa hôm nay, tuy các bị hại là chị Lưu Thị L và Lê Nguyễn Trung Thùy D đã được triệu tập hợp lệ mà vẫn vắng mặt, nhưng theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì cả 02 chị L và D đã được nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không ai yêu cầu gì đối với bị cáo nên cần ghi nhận.

[7] Về vật chứng: Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu tím của chị Lưu Thị L và chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh rêu 256GB của chị Lê Nguyễn Trung Thùy D, Cơ quan điều tra đã thu hồi giao trả lại cho cả 02 chị nên không xét. Riêng đối với: 01 cái túi xách màu đen sọc trắng (vụ Nguyễn Thị Thanh T tội “Trộm cắp tài sản”, 01 cái ba lô vải màu đen (vụ Nguyễn Thị Thanh T tội “Trộm cắp tài sản”), 01 cái áo khoác màu vàng trắng (vụ Nguyễn Thị Thanh T tội “Trộm cắp tài sản”), 01 cái áo khoác dài tay màu nâu (vụ Nguyễn Thị Thanh T tội “Trộm cắp tài sản”), 01 đôi giày thể thao màu trắng (vụ Nguyễn Thị Thanh T tội “Trộm cắp tài sản”), 01 cái nón màu hồng (vụ Nguyễn Thị Thanh T tội “Trộm cắp tài sản”), 01 cái quần sọc ca rô trắng đen (vụ Nguyễn Thị Thanh T tội “Trộm cắp tài sản”), 01 cái áo màu xanh lá (vụ Nguyễn Thị Thanh T tội “Trộm cắp tài sản”) và 01 cái áo đầm cổ tròn ngắn tay sọc ngang màu trắng (vụ Nguyễn Thị Thanh T tội “Trộm cắp tài sản”) của bị cáo, do không yêu cầu trả lại và có đề nghị tiêu hủy nên cần tịch thu để tiêu hủy.

[8] Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về căn cứ điều luật và xử phạt:
    • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm n, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T 02 (hai) năm tù về “Tội trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 07-11-2023.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận các bị hại là chị Lưu Thị L và Lê Nguyễn Trung Thùy D không yêu cầu gì đối với bị cáo Nguyễn Thị Thanh T.
  3. Về vật chứng: căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

    Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 cái túi xách màu đen sọc trắng (vụ Nguyễn Thị Thanh T tội “Trộm cắp tài sản”, 01 cái ba lô vải màu đen (vụ Nguyễn Thị Thanh T tội “Trộm cắp tài sản”), 01 cái áo khoác màu vàng trắng (vụ Nguyễn Thị Thanh T tội “Trộm cắp tài sản”), 01 cái áo khoác dài tay màu nâu (vụ Nguyễn Thị Thanh T tội “Trộm cắp tài sản”), 01 đôi giày thể thao màu trắng (vụ Nguyễn Thị Thanh T tội “Trộm cắp tài sản”), 01 cái nón màu hồng (vụ Nguyễn Thị Thanh T tội “Trộm cắp tài sản”), 01 cái quần sọc ca rô trắng đen (vụ Nguyễn Thị Thanh T tội “Trộm cắp tài sản”), 01 cái áo màu xanh lá (vụ Nguyễn Thị Thanh T tội “Trộm cắp tài sản”) và 01 cái áo đầm cổ tròn ngắn tay sọc ngang màu trắng (vụ Nguyễn Thị Thanh T tội “Trộm cắp tài sản”).

    (Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân đang tạm giữ theo Phiếu nhập kho số: NK25/10TV, ngày 11/10/2024)

  4. Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào các điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

    Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại chị Lưu Thị L và Lê Nguyễn Trung Thùy D vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP . HCM;
  • - VKSND Q.BT;
  • - CQĐT-CA Q.BT;
  • - Nhà tạm giữ-CA Q.BT;
  • - Chi cục THA DS Q.BT;
  • - Trại tạm giam;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Người tham gia tố tụng khác (nếu có);
  • - Lưu hs, Vp.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh Văn Ái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 306/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 306/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thanh T “Tội trộm cắp tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger