Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 306/2024/DS-PT

Ngày: 09-7-2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Tòng.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tâm;

Bà Phạm Ngọc Giàu.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Bùi Quốc Việt, Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 105/2024/TLPT-DS ngày 08 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 119a/2023/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Căn cứ Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 221/2024/QĐXX-PT ngày 23 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 60/2024/QĐ-PT ngày 12-6-2024; giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Hà Thị N (L), sinh năm 1976; nơi cư trú: Áp A, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
  2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1982; nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết T, Luật sư, Văn phòng luật sư Nguyễn Tuyết T, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T; có mặt.

  1. Người kháng cáo: Chị Nguyễn Thị S là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 04 tháng 5 năm 2023 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Hà Thị N trình bày:

Ngày 07-3-2019 (nhằm ngày 02-02-2019 A) chị S vay của chị số tiền 410.000.000 đồng, có viết “Giấy mượn tiền”; lãi suất thoả thuận bằng lời nói là 8.000.000 đồng/tháng, không có thời hạn trả nợ. Sau khi vay đến tháng trả lãi, chị S không có tiền trả nên xin chuyển qua tiền hụi, cụ thể: Chị chơi hụi và tự hốt để trừ nợ số tiền 410.000.000 đồng và 8.000.000 đồng tiền lãi của tháng 4 năm 2019; mỗi tháng chị S phải đóng cho chị số tiền 12.000.000 đồng x 02 phần hụi, thời hạn phải đóng hụi là 21 tháng; việc thoả thuận này không có giấy tờ.

Qua tháng sau, chị S đóng mãn được 01 phần hụi, phần còn lại chỉ đóng được 02 phần, còn nợ lại 19 tháng x 12.000.000 đồng = 228.000.000 đồng và 8.000.000 đồng tiền lãi. Sau đó, chị S có đóng cho chị được thêm số tiền: Ngày 24-01-2022 số tiền 50.000.000 đồng; ngày 27-4-2022 số tiền 50.000.000 đồng.

Như vậy, chị S còn nợ chị số tiền: 128.000.000 đồng + 8.000.000 đồng (tiền lãi của của tháng 4 năm 2019) = 136.000.000 đồng.

Tại phiên toà sơ thẩm: Chị N yêu cầu chị S trả số tiền 128.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định từ ngày nộp đơn khởi kiện (15-5-2023) đến ngày xét xử sơ thẩm (12-9-2023); không yêu cầu anh Nguyễn Văn T1 là chồng chị S có trách nhiệm liên đới trả nợ; rút yêu cầu đối với số tiền lãi 8.000.000 đồng.

Bị đơn chị Nguyễn Thị S trình bày:

Không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn, vì: Chị vay tiền của chị N nhiều lần; mỗi lần từ 20.000.000 đồng, 30.000.000 đồng cao nhất là 50.000.000 đồng; không có làm giấy tờ; lãi suất 10%/tháng; sau khi vay xong chị đóng lãi đầy đủ. Sau đó, chị N cộng dồn thành số tiền 280.000.000 đồng, mỗi tháng đóng lãi số tiền 28.000.000 đồng, đóng được 27 tháng, chị đóng không nỗi nên chị N cộng gốc lãi thành số tiền 418.000.000 đồng; ép chị ký tên nợ số tiền này trong “Giấy mượn tiền” ngày 02-02-2019 A: Phần chữ số “410.000.000” và chữ viết “Bốn trăm triệu chẳng” trong giấy mượn tiền là do chị viết. Sau đó, chị đi vay Ngân hàng được số tiền 600.000.000 đồng và đã trả cho chị N một lần xong số tiền nợ 410.000.000 đồng, chỉ còn nợ lại số tiền 8.000.000 đồng; khi đó chị vò nát giấy mượn tiền, bỏ vào sọt rác nhà chị N; chị N lấy lại giấy nợ, ủi cho thẳng rồi khởi kiện chị.

Tại phiên toà sơ thẩm, chị S trình bày: Chị vay Ngân hàng số tiền 600.000.000 đồng và đã trả được cho chị N số tiền 200.000.000 đồng, còn nợ lại số tiền 210.000.000 đồng; sau đó chị N tự quy ra tiền hụi, mỗi tháng chị đóng hụi chết 12.000.000 đồng x 02 phần = 24.000.000 đồng; chị đóng được 05 tháng với số tiền 120.000.000 đồng; sau đó xin đóng mỗi tháng 12.000.000 đồng và đã đóng được khoảng hơn 1 năm với số tiền bao nhiêu không nhớ; và có trả tiếp được 03 lần, mỗi lần số tiền 50.000.000 đồng cho chị N; chị N nói chị còn nợ lại 88.000.000 đồng tiền lãi hẹn đến tháng 12 trả nhưng chị N khởi kiện nên nay chị không đồng ý trả bất cứ khoản tiền cho chị N vì chị vay số tiền 280.000.000 đồng nhưng đã đóng lãi trên 1 tỷ.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 119a/2023/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh; quyết định:

Căn cứ các Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và Gia đình; các Điều 463, 466 468, 471, 351, 357 Bộ luật Dân sự; Điều 26, 147, 227 Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận 1 phần yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” của bà Hà Thị N đối với bà Nguyễn Thị S.

Buộc bà Nguyễn Thị S phải có nghĩa vụ trả cho bà Hà Thị N số tiền 132.158.336 đồng.

Ghi nhận: Bà Hà Thị N không yêu cầu ông Nguyễn Văn T1 chồng bà Nguyễn Thị S cùng có trách nhiệm trả nợ.

Kể từ ngày bà Hà Thị N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Nguyễn Thị S không trả số tiền trên, thì hàng tháng bà Nguyễn Thị S còn phải trả cho bà Hà Thị N số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

Đình chỉ: 01 phần yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” của bà Hà Thị N đối với Nguyễn Thị S đối với số tiền 8.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo; quyền, nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.

Ngày 26-9-2023 chị Nguyễn Thị S kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm nêu trên.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Chị Nguyễn Thị S trình bày ý kiến, với nội dung: Giữ nguyên đơn kháng cáo. Chị vay tiền của chị N tổng tiền nợ là 280.000.000 đồng ngày tháng năm không nhớ; lãi suất 10%/tháng, đã đóng lãi từ tháng 9/2016 đến tháng 11/2018 là 27 tháng thành số tiền 756.000.000 đồng, chị có sổ theo dõi; tháng 28 ngưng thì chị N cộng dồn lãi và gốc 280.000.000 đồng thành số tiền 410.000.000 đồng ngày 02-02-2019 AL. Sau đó, chị đi vay Ngân hàng A1 được 600.000.000 đồng trả cho chị N 410.000.000 đồng, còn nợ 8.000.000 đồng, chị N ghi vào giấy nợ. Khi đó chị bỏ giấy nợ trong sọt rác nhà chị N và chị N lấy lại giấy nợ khởi kiện chị.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày ý kiến, với nội dung: Theo hồ sơ tài liệu có trong vụ án, cũng như nội dung đơn kháng cáo của bị đơn thì có cơ sở xác định: Chị S đã trả cho chị N số tiền 410.000.000 đồng và chỉ còn nợ 8.000.000 đồng; các lời khai về chơi hụi của chị N là không có căn cứ, không cung cấp được tài liệu, giấy tờ về việc này, nên đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, không phải là hợp đồng góp hụi; chị S vay tiền của chị N nhiều lần, cộng tổng gốc là 280.000.000 đồng, đã trả lãi 27 tháng được số tiền 756.000.000 đồng nên đề nghị cho khấu trừ; do không đóng nổi nên chị N cộng dồn thành 410.000.000 đồng; lãi suất cho vay là 10%/ tháng, là vi phạm pháp luật, có người làm chứng về việc này đề nghị Toà án xác minh; lời trình bày của bị đơn không được Toà án sơ thẩm ghi nhận, việc khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ.

Chị Hà Thị N trình bày: Không đồng ý với toàn bộ lời trình bày của chị S.

- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:

+ Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án và quyết định đưa vụ án ra xét xử bảo đảm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

+ Về nội dung: Đề nghị sửa bản án sơ thẩm; xác định lại nợ gốc, lãi theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Đơn kháng cáo của bị đơn được làm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Tại cấp phúc thẩm bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị người làm chứng là bà Dương Thị G, sinh năm 1963; nơi cư trú ấp A, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh; chị Trần Kim T2, sinh năm 1976; nơi cư trú ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh; tại phiên toà chị Trần Kim T2 có mặt tham gia với tư cách là người làm chứng; Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Về nội dung:

[2.1] Nguyên đơn khởi kiện căn cứ vào “Giấy mượn tiền” đề ngày 02-02-2019 Âm lịch là ngày 07-3-2019 Dương L1; bị đơn thừa nhận nội dung về số tiền vay 410.000.000 đồng do mình viết tay, ký và ghi họ tên vào mẫu giấy mượn tiền, chỉ lập một bản; nhưng cho rằng: Số tiền nợ gốc vay trước đó là 280.000.000 đồng đã đóng lãi mỗi tháng 28.000.000 đồng (lãi suất 10%/tháng) từ tháng 9/2016 đến tháng 11/2018 là 27 tháng thành số tiền 756.000.000 đồng, thì ngưng; sau đó chị N cộng thêm tiền lãi thành số tiền 410.000.000 đồng và chị N ép chị ký giấy nợ này. Tuy nhiên, nguyên đơn không thừa nhận. Trong khi, bị đơn không cung cấp được: Tài liệu, giấy tờ thể hiện khoản vay gốc của mình là 280.000.000 đồng; tài liệu, giấy tờ giao nhận tiền lãi với lãi suất 10%/tháng với chị N và không cung cấp được chứng cứ chứng minh sự không tự nguyện trong giao kết giao dịch dân sự; do đó, không có căn cứ nào để xem xét, chấp nhận lời nại của chị S. Như vậy, có cơ sở xác định việc chị S vay của chị N số tiền 410.000.000 đồng vào ngày 07-3-2019 là có thật; đảm bảo đủ các điều kiện có hiệu lực giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 117 của Bộ luật Dân sự; nên “Giấy mượn tiền” ngày 07-3-2019 được xác định là chứng cứ theo quy định tại các Điều 93, 94, 95 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2.2] Nội dung của giấy mượn tiền trên không có thoả thuận thời hạn trả nợ nên được xác định là hợp đồng vay không kỳ hạn; nguyên đơn cho rằng lãi suất là 8.000.000 đồng/tháng, bị đơn cho rằng lãi suất 10%/tháng là thuộc trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất, nên áp dụng khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự thì lãi suất được xác định 10%/năm.

[2.3] Xét việc thực hiện hợp đồng:

[2.3.1] Chị N cho rằng các bên thoả thuận chuyển từ tiền vay sang tiền hụi với hình thức: Chị chơi hụi của người khác và tự hốt để trừ nợ số tiền 410.000.000 đồng và 8.000.000 đồng tiền lãi của tháng 4 năm 2019 và bắt đầu từ tháng 5/2019 mỗi tháng chị S phải đóng số tiền 12.000.000 đồng x 02 phần hụi, thời hạn là 21 tháng; việc thoả thuận này không có giấy tờ, không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Thấy rằng, xét về bản chất giao dịch này không phải là hụi theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật Dân sự mà là hình thức chuyển từ hợp đồng vay không kỳ hạn số tiền 410.000.000 đồng sang hợp đồng vay có kỳ hạn 21 tháng và có lãi; mỗi tháng trả tiền gốc và tiền lãi là 24.000.000 đồng thành số tiền tổng phải trả là 504.000.000 đồng. Chị S cũng thừa nhận có việc hàng tháng đóng 24.000.000 đồng nhưng không thống nhất với mức lãi mà nguyên đơn trình bày; do vậy, áp dụng khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự thì lãi suất được xác định 10%/năm.

[2.3.2] Như vậy, thời hạn bắt đầu trả nợ số tiền 410.000.000 đồng là ngày 07-5-2019 đến thời hạn kết thúc là 07-02-2021; tính tiền lãi của nợ gốc 410.000.000 đồng với lãi suất 10%/năm của 21 tháng, thành số tiền lãi là 71.750.000 đồng; tổng nợ gốc và lãi của chị S được xác định là 481.750.000 đồng.

[2.3.3] Chị S không cung cấp được chứng cứ chứng minh đã thanh toán xong một lần cho chị N số tiền 410.000.000 đồng vào thời gian nào? và chỉ còn nợ 8.000.000 đồng nhưng số tiền này là tiền gì?được tính như thế nào thì không giải thích được.

[2.3.3a] Chị nêu ra sự kiện này nhưng tại phiên toà sơ thẩm lại trình bày với nội dung khác, đó là khi vay Ngân hàng số tiền 600.000.000 đồng đã trả được cho chị N số tiền 200.000.000 đồng, còn nợ lại số tiền 210.000.000 đồng nhưng cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh.

[2.3.3b] Sau đó chị còn trình bày: Chị N tự quy ra tiền hụi, mỗi tháng đóng hụi chết 12.000.000 đồng x 02 phần = 24.000.000 đồng; đã đóng được 05 tháng với số tiền 120.000.000 đồng; xin đóng mỗi tháng 12.000.000 đồng được khoảng hơn 1 năm với số tiền bao nhiêu không nhớ và có trả tiếp được 03 lần, mỗi lần số tiền 50.000.000 đồng cho chị N; nhưng cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh.

[2.3.3c] Thấy rằng: Các số liệu nêu trên là không rõ ràng, tính toán không trùng khớp, không phù hợp với số tiền mà bản thân chị S trình bày nợ là 210.000.000 đồng; còn nếu chỉ thừa nhận số tiền còn nợ là 8.000.000 đồng thì hoàn toàn sai; không đúng thực tế khách quan, bỡi giấy nợ chỉ được lập 01 bản do chủ nợ giữ nên tình tiết bị đơn nại rằng “Tôi vò nát giấy nợ, bỏ vào sọt rác nhà chị N; chị N lấy lại giấy nợ, ủi cho thẳng rồi khởi kiện” là không có cơ sở xảy ra.

[2.3.3d] Cùng với đó thì tại đơn kháng cáo ngày 25-9-2023 chị lại trình bày: “...Tôi đóng lãi chị N không nổi, nên tôi dừng đóng lãi, chị N cộng dồn tiền lãi là 416.000.000 đồng, trừ tiền hụi tôi đóng chị N 160.000.000. Như vậy, tôi còn nợ chị N 256.000.000 đồng. Tôi trả dần chị N nhiều lần 168.000.000 đồng. Chị N tự ý tính lãi và ép tôi phải trả tiền lãi 88.000.000 đồng, tôi sợ chị N đến nhà quậy làm mất mặt con cái và gia đình và sợ chị N thuê giang hồ đánh tôi nên tôi thống nhất có nợ 88.000.000 đồng tiền lãi...”.

[2.3.3e] Như vậy, thấy rằng cùng một sự việc nhưng các lời trình bày của chị S là mâu thuẫn với nhau, không phù hợp với thực tế khách quan và mâu thuẫn với chính lời thừa nhận của mình; nên không có căn cứ xem xét, chấp nhận toàn bộ.

[2.3.4] Việc Toà án xem xét, chấp nhận lời trình bày của nguyên đơn trong vụ án này là theo hướng có lợi cho bị đơn, theo đó: Nguyên đơn thừa nhận bị đơn đã trả được số tiền 276.000.000 đồng trong kỳ hạn, nên xác định tính đến ngày 07-02-2021 chị S nợ chị N số tiền: 481.750.000 đồng – 276.000.000 = 205.750.000 đồng. Chị N không cung cấp được tài liệu thể hiện có thoả thuận nào khác giữa các bên sau khi kết thúc hạn thanh toán trên và cũng như thừa nhận chị S đã trả tiếp được số tiền 50.000.000 đồng vào ngày 24-01-2022 và số tiền 50.000.000 đồng vào ngày 27-4-2022, sau đó cũng không có thoả thuận thời hạn trả số nợ còn lại. Nên vào thời điểm này phải xác định là hợp đồng vay không kỳ hạn của số tiền nợ gốc còn lại là 105.750.000 đồng và có lãi, mức lãi suất được xác định 10%/năm theo quy định tại khoản 2 Điều 468, khoản 2 Điều 469 của Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, chị N chỉ yêu cầu tính lãi từ ngày nộp đơn khởi kiện (15-5-2023) đến ngày xét xử sơ thẩm (12-9-2023) là có lợi cho bị đơn; nên ghi nhận theo quy định tại Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự; tiền lãi được tính thành: 105.750.000 đồng x 10%/ năm x 03 tháng 28 ngày = 3.466.250 đồng.

[2.4] Từ những phân tích nêu trên, thấy rằng bị đơn phản đối yêu cầu của người khác có trách nhiệm thu thập, cung cấp, giao nộp cho Toà án tài liệu, chứng cứ để chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự; nhưng không chứng minh được mình đã hoàn thành xong nghĩa vụ trong giao dịch dân sự; lời trình bày tại phiên toà của người làm chứng do bị đơn xác định đều không biết rõ về giao dịch dân sự giữa các bên, quá trình thực hiện giao dịch như thế nào?...nên không được xác định là chứng cứ theo quy định tại Điều 95 của Bộ luật tố tụng dân sự; nên Toà án giải quyết theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự và đây cũng là cơ sở để không chấp nhận luận cứ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.

[2.5] Những nhận định và căn cứ nêu trên có đủ cơ sở buộc chị S có trách nhiệm trả cho chị N số tiền 109.216.250 đồng; do đó, cần sửa bản án sơ thẩm chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát; chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn.

[3] Quyết định về lãi, lãi suất tại phần quyết định của bản án sơ thẩm là không đúng theo quy định khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; nên phải điều chỉnh lại cách tuyên; cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

[4] Án phí:

[4.1] Do sửa bản án, Tòa án cấp phúc thẩm xác định lại nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm; căn cứ khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 2014 ngày 30 tháng 12 năm 2016:

[4.1a] Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận, cụ thể: (132.158.336 đồng - 109.216.250 đồng) X 5 % = 1.147.104 đồng.

[4.1b] Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận, cụ thể: 109.216.250 đồng X 5 % = 5.460.812 đồng.

[4.2] Bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 2014 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn; sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 119a/2023/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

Căn cứ các Điều 117, 463, 466, 468, 469 Bộ luật Dân sự; các Điều 5, 147, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 26, 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị N về tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với chị Nguyễn Thị S.

    Chị Nguyễn Thị S có trách nhiệm trả cho chị Hà Thị N số tiền 109.216.250 (một trăm lẽ chín triệu hai trăm mười sáu ngàn hai trăm năm mươi) đồng; trong đó, bao gồm: Nợ gốc là 105.750.000 (một trăm lẽ năm triệu bảy trăm năm mươi ngàn) đồng và tiền lãi là 3.466.250 (ba triệu bốn trăm sáu mươi sáu ngàn hai trăm năm mươi) đồng.

    Ghi nhận chị Hà Thị N không yêu cầu anh Nguyễn Văn T1 (chồng chị Nguyễn Thị S) chịu trách nhiệm liên đới cùng chị S trả cho chị N số tiền 109.216.250 (một trăm lẽ chín triệu hai trăm mười sáu ngàn hai trăm năm mươi) đồng.

  2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  3. Đình chỉ phần yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” của chị Hà Thị N đối với chị Nguyễn Thị S về số tiền 8.000.000 (tám triệu) đồng.
  4. Về án phí:
    1. Chị Nguyễn Thị S phải chịu 5.460.812 (năm triệu bốn trăm sáu mươi ngàn tám trăm mươi hai) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    2. Chị Hà Thị N phải chịu 1.147.104 (một triệu một trăm bốn mươi bảy ngàn một trăm lẽ bốn) đồng án phí dân sự sơ thẩm; được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 3.400.000 (ba triệu bốn trăm ngàn) đồng tại Biên lai thu số 0025537 ngày 29-5-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh; chị N được hoàn trả số tiền 2.252.896 (hai triệu hai trăm năm mươi hai ngàn tám trăm chín mươi sáu) đồng.
    3. Chị Nguyễn Thị S không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; hoàn trả cho chị Nguyễn Thị S tiền tạm ứng án phí kháng cáo 300.000 (ba trăm ngàn) đồng đã nộp tại Biên lai thu số 0025815, ngày 26-9-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND. TTN;
  • - TAND huyện Gò Dầu;
  • - Chi cục THADS huyện Gò Dầu;
  • - Phòng KTNV&THA. TATTN;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Tòng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 306/2024/DS-PT ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 306/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nhẹ yêu cầu chị Sáu trả số tiền 128.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định từ ngày nộp đơn khởi kiện (15-5-2023) đến ngày xét xử sơ thẩm (12-9-2023); không yêu cầu anh Nguyễn Văn Tòng là chồng chị Sáu có trách nhiệm liên đới trả nợ; rút yêu cầu đối với số tiền lãi 8.000.000 đồng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger