|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
Bản án số: 305A/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24-6-2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Duy Bảo
- Ông Trần Xuân Thành
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Chiến – Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 245/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 04 năm 2025 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 265/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 05 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 272/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 06 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1983; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: K, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1973; Nơi đăng ký thường trú trước khi xuất cảnh: Thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Chỗ ở hiện nay: Hàn Quốc. Vắng mặt tại phiên tòa (lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 28/02/2025, Bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 18/08/2009 tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Trong quá trình sinh sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân và đã ly thân được một thời gian dài. Đến năm 2017, anh Nguyễn Văn D đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Từ đó đến nay, hai vợ chồng không thường xuyên liên lạc, không quan tâm gì đến nhau kể cả vật chất lẫn tinh thần, không hỗ trợ nhau trong việc chăm sóc và nuôi dưỡng con cái. Hiện nay, xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Nguyễn Văn D.
Tuy nhiên, do chị H và anh D đã lâu không liên lạc với nhau, mà anh D cũng không cung cấp địa chỉ cho chị H nên chị Trần Thị H không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh Nguyễn Văn D tại Hàn Quốc, mà chỉ biết anh D thường xuyên liên lạc với mẹ đẻ là bà Hồ Thị D1, sinh năm 1952, địa chỉ: Thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Nghệ An và bà D1 biết thông tin, địa chỉ cụ thể của anh D tại Hàn Quốc, nên đề nghị Toà án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
- Về con chung: Chị H và anh Nguyễn Văn D có 02 con chung là Nguyễn Trần Vũ P, sinh ngày 03/3/2010 và Nguyễn Trần Vũ K, sinh ngày 26/3/2014. Hiện nay, các con chung đang ở với chị H. Nay ly hôn, chị H đề nghị được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu Nguyễn Trần Vũ P và cháu Nguyễn Trần Vũ K và không yêu cầu anh Nguyễn Văn D cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên toà bị đơn là anh Nguyễn Văn D đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo kết quả xác minh tại Công văn số 723/QLXNC-Đ1 ngày 10 tháng 03 năm 2025 của Phòng Q – Công an tỉnh N thì: “Anh Nguyễn Văn D, sinh ngày 10/12/1973 đã xuất cảnh ngày 18/5/2017 qua cửa khẩu S, chưa có thông tin nhập cảnh”. Vì vậy, sau khi thụ lý, Toà án đã gửi, niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Công văn đề nghị cung cấp thông tin, địa chỉ của anh D ở nước ngoài; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa... nhưng anh D vẫn không có mặt, không có văn bản trình bày ý kiến để giải quyết nên vụ án không tiến hành hoà giải được.
Tại Văn bản trình bày ý kiến đề ngày 16/05/2025, bà Hồ Thị D1, sinh năm 1952 (mẹ đẻ anh Nguyễn Văn D) trình bày: Bà là mẹ đẻ anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1973; Nơi ĐKHKTT trước khi xuất cảnh: thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Chỗ ở hiện nay: Hàn Quốc. Anh D2 và chị H tự nguyện kết hôn với nhau tại UBND phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Thời gian đầu vợ chồng anh D2 chung sống hạnh phúc. Đến năm 2017, anh D2 đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc cho đến nay. Trong thời kỳ hôn nhân, anh D2 và chị H có 02 con chung: cháu Nguyễn Trần Vũ P, sinh ngày 03/3/2010 và cháu Nguyễn Trần Vũ K, sinh ngày 26/03/2014. Hiện nay hai cháu đang ở cùng với chị H. Hiện nay, anh D2 đang sinh sống, và làm việc tại Hàn Quốc, địa chỉ cụ thể như thế nào thì bà không rõ. Anh Dũng thường xuyên liên lạc với bà qua mạng xã hội Facebook, Zalo...và qua điện thoại. Sau khi nhận được văn bản của Toà án, bà D1 đã thông báo cho anh D2 được biết về việc chị H yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với anh D2. Đồng thời, thông tin cho anh D2 biết để cung cấp địa chỉ nơi cư trú tại đất nước Hàn Quốc và trình bày ý kiến về việc yêu cầu ly hôn, nuôi con chung chưa thành niên cho Toà án nhưng anh D2 không cung cấp. Bản thân bà cũng không biết địa chỉ cụ thể của anh D2 tại Hàn Quốc là ở đâu. Về việc ly hôn với chị H, qua liên lạc thì anh D2 cũng đồng ý. Về việc nuôi con chung, anh D2 cũng đồng ý để chị H tiếp tục trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung chưa thành niên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự; việc thụ lý và giải quyết vụ án đúng các quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định đúng tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo đúng quy định... Tại phiên toà, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt là không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 122, 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- + Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Trần Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn D.
- + Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Trần Vũ P, sinh ngày 03/3/2010 và cháu Nguyễn Trần Vũ K, sinh ngày 26/3/2014 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Văn D do chị H chưa có yêu cầu.
- + Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
- - Về án phí: Nguyên đơn chị Trần Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 28/02/2025, chị Trần Thị H có đơn khởi kiện gửi tới Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Nguyễn Văn D. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo thì chị Trần Thị H đang cư trú tại khối A, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An còn anh Nguyễn Văn D có đăng ký thường trú trước khi xuất cảnh tại thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Nghệ An nhưng hiện nay anh D đang đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Theo kết quả xác minh tại Phòng Q - Công an tỉnh N thì: anh Nguyễn Văn D, sinh ngày 10/12/1973 đã xuất cảnh ngày 18/5/2017 qua cửa khẩu S, chưa có thông tin nhập cảnh. Vì vậy, Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 122, 123 và 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, bị đơn anh Nguyễn Văn D, mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Văn D hiện nay vẫn đăng ký thường trú tại thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Nghệ An, nhưng đã đi xuất khẩu lao động tại đất nước Hàn Quốc, hiện không có mặt tại địa phương mà không thông báo địa chỉ cụ thể hiện nay tại nước ngoài. Toà án đã có công văn yêu cầu cung cấp địa chỉ của anh D tại nước ngoài nhưng theo bà Hồ Thị D1 (mẹ đẻ của anh D) thì anh D vẫn thường xuyên liên lạc với bà D1 và gia đình qua điện thoại; bà D1 đã thông tin cho anh D được biết về việc cung cấp địa chỉ của anh D tại nước ngoài và ý kiến về việc giải quyết ly hôn với chị H nhưng anh D vẫn không cung cấp địa chỉ cụ thể, không gửi lời khai về nên gia đình không có để cung cấp cho Toà án. Do đó, cần xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ; từ chối khai báo. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Văn D.
[2] Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị H:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Trần Thị H và anh Nguyễn Văn D được xác lập trên cơ sở do hai người tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã có thời gian chung sống hoà thuận và có với nhau hai người con chung nhưng hạnh phúc gia đình không xây dựng được lâu dài. Từ năm 2017 khi anh D đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc thì mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng do khoảng cách địa lý xa xôi, vợ chồng đã lâu không liên lạc, không quan tâm nhau cả về đời sống vật chất lẫn tinh thần. Quá trình giải quyết vụ án, anh D lại không có mặt tại Toà án để làm việc, cũng không cung cấp được chứng cứ gì về phương án khắc phục tình trạng vợ chồng. Hội đồng xét thấy, thời gian mà vợ chồng chung sống với nhau là không dài, nhưng đã ly thân một thời gian mà cả hai bên đều không có giải pháp gì để đoàn tụ, anh D hiện đang đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc nhưng không có liên lạc gì về với chị H, nguyên đơn chị H cũng kiên quyết yêu cầu giải quyết ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị H yêu cầu giải quyết ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình cần chấp nhận.
[2.2] Về quan hệ con chung: Theo lời khai của chị H và các tài liệu thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án thì chị Trần Thị H và anh Nguyễn Văn D có 02 con chung là cháu Nguyễn Trần Vũ P, sinh ngày 03/3/2010 và cháu Nguyễn Trần Vũ K, sinh ngày 26/3/2014 hiện nay đang được chị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Nay ly hôn, chị H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trần Vũ P và cháu Nguyễn Trần Vũ K, không yêu cầu anh Nguyễn Văn D cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét thấy: Việc trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ. Tuy nhiên, từ khi anh D đi nước ngoài đến nay, cháu P, cháu K đang sinh sống với chị H, được chăm sóc phát triển hoàn toàn bình thường. Hiện nay, anh D đang ở nước ngoài, bà D1 (mẹ anh D) cũng không cung cấp được địa chỉ cụ thể nơi cư trú của anh D tại nước ngoài. Do đó, cần giao cháu Nguyễn Trần Vũ P và cháu Nguyễn Trần Vũ K cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình là phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con và điều kiện hoàn cảnh của các bên, cũng như nguyện vọng của các cháu, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các cháu. Chị H xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trần Vũ P và cháu Nguyễn Trần Vũ K nhưng không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con nên Toà án chưa xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Tại đơn khởi kiện, Bản tự khai, chị H không yêu cầu Toà án giải quyết, anh D cũng chưa có ý kiến gì nên Toà án chưa có cơ sở để xem xét. Các đương sự có quyền khởi kiện khi có yêu cầu.
[3] Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu án phí dân sự ly hôn theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Vì các lẽ trên;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị H.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.
-
Về quan hệ con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Trần Vũ P, sinh ngày 03/3/2010 và cháu Nguyễn Trần Vũ K, sinh ngày 26/3/2014 cho chị Trần Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị Trần Thị H không yêu cầu và anh Nguyễn Văn D cũng chưa có ý kiến nên Toà án không xem xét.
Anh Nguyễn Văn D có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Nguyễn Văn D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Thị H không yêu cầu và anh Nguyễn Văn D chưa có ý kiến gì nên Toà án chưa xem xét. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị đã nộp theo Biên lai số 0007666 ngày 09/04/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau: Chị Trần Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Văn D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Nga |
Bản án số 305A/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 305A/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giải quyết ly hôn giữa H và D
