|
PTÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 305/2024/HNGĐ-ST Ngày 31-10-2024 V/v ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tuyến
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Nguyễn Thanh Hải
Ông Đỗ Trọng Tuấn
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Ngày 31 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 252/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 280/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L; nơi ĐKHKTT: Thôn D, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: 2524. W. Berridge Ln U E 214 Phoenix. AZ. 85017 USA (Hoa Kỳ); vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt
- Bị đơn: Anh Vũ Đình C; nơi cư trú: Thôn D, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị L trình bày:
Chị Nguyễn Thị L và anh Vũ Đình C kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 23/01/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau tại Việt Nam một thời gian ngắn thì chị L phải trở về Hoa Kỳ. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2021 do chị L không đủ điều kiện để bảo lãnh cho anh C sang đoàn tụ. Thời gian đầu vợ chồng còn hay liên lạc với nhau nhưng do khoảng cách địa lý xa xôi nên ngày càng ít liên lạc, tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Anh chị đã sống ly thân từ giữa năm 2019 đến nay. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không đạt kết quả. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên chị L đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho chị L được ly hôn với anh Vũ Đình C.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Vũ Đình C không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại các bản tự khai, bị đơn là anh Vũ Đình C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh thống nhất với lời trình bày của chị L về quan hệ hôn nhân và mâu thuẫn vợ chồng. Nay, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh Vũ Đình C đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho anh Vũ Đình C được ly hôn với chị Nguyễn Thị L.
Về con chung: Anh Vũ Đình C và chị L không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh Vũ Đình C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị L có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Vũ Đình C. Do vậy, quan hệ pháp luật trong vụ án là “ly hôn”. Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị L hiện đang ở Hoa Kỳ, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Hải Phòng; bị đơn là anh Vũ Đình C hiện có nơi cư trú tại Hải Phòng. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị L và bị đơn là anh Vũ Đình C vắng mặt nhưng cùng có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Vũ Đình C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 23/01/2019. Theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình, quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình chung sống, chị L và anh Vũ Đình C phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng mỗi người ở một nơi nên ngày càng ít liên lạc, tình cảm phai nhạt dần. Nay cả hai anh chị đều xác định không còn tình cảm vợ chồng, vợ chồng sống ly thân từ năm 2019, không còn quan tâm đến nhau nên cùng đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L về việc xin ly hôn với anh Vũ Đình C.
[4] Về con chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Vũ Đình C cùng xác nhận anh chị không có con chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Vũ Đình C không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị L và anh Vũ Đình C được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Vũ Đình C.
1.2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Vũ Đình C cùng xác nhận anh chị không có con chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
1.3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Vũ Đình C không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000676 ngày 03 tháng 10 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị L đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Anh Vũ Đình C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Tuyến |
Bản án số 305/2024/HNGĐ-ST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn
- Số bản án: 305/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
