Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 305/2024/DS-ST

Ngày 23-9-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Đoan

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Hồ Quang Minh
  • Ông Huỳnh Văn Tới

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hiếu Nghĩa là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa: Bà Võ Hồng Luyến - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 320/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 4 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 370/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2024 giữa:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (MB).

Địa chỉ: Số A, L, phường T, Quận C, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn P - Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Thanh T – Chuyên viên xử lý nợ - Công ty M tham gia tố tụng theo văn bản ủy quyền số 508 ngày 25/3/2024 (xin vắng mặt).

- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị H, sinh năm: 1985 (vắng mặt).

Ông Hồ Văn T1, sinh năm: 1980 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Khóm D, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 25/3/2024, quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn ông Đinh Thanh T trình bày: Ngày 08/9/2021, bà Huỳnh Thị H và ông Hồ Văn T1 có ký hợp đồng tín dụng số 155451.21.751.3860471. TD cùng khế ước nhận nợ số LD2220165163 với Ngân hàng thương mại cổ phần Q (MB) để vay số tiền 525.000.000 đồng, thời hạn vay đến ngày 20/6/2023, lãi suất vay 8,1%/năm;

Ngoài ra, ngày 19/11/2020, bà Huỳnh Thị H và ông Hồ Văn T1 có đăng ký phát hành kiêm hợp đồng mở thẻ tín dụng số 472674xxxxxx5486, hạn mức mở thẻ 300.000.000 đồng.

Để bảo đảm cho khoản vay theo hợp đồng tín dụng số 155451.21.751.3860471.TD, bà H và ông T1 đã ký hợp đồng thế chấp bất động sản số 68.18.751.3860471. BD là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số BD 507866, số vào sổ CH00828 do UBND huyện T cấp ngày 28/4/2011, thửa đất số 244, tờ bản đồ số 25, diện tích 180,8m²; đất tọa lạc tại khóm D, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau đứng tên bà Huỳnh Thị H đã được công chứng ngày 15/3/2018 tại Phòng C tỉnh Cà Mau và đã được đăng giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T.

Trong quá trình vay vốn, bà Huỳnh Thị H và ông Hồ Văn T1 đã thanh toán cho ngân hàng số tiền 259.618.755 đồng. Nay ngân hàng M1 yêu cầu bà Huỳnh Thị H và ông Hồ Văn T1 có trách nhiệm thanh toán nợ cho Ngân hàng M1 tính đến hết ngày 19/9/2024, tổng cộng 492.001.000 đồng (làm tròn). Trong đó nợ gốc 308.533.368 đồng, nợ lãi 68.892.195 đồng và nợ thẻ tín dụng 116.576.266 đồng.

Buộc bà H, ông T1 thanh toán phần nợ lãi, tiền phạt phát sinh theo lãi suất quá hạn thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 155451.21.751.3860471.TD ngày 08/9/2021, khế ước và nợ thẻ tín dụng kể từ ngày 20/9/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Trường hợp bà Huỳnh Thị H và ông Hồ Văn T1 không trả nợ cho M1 thì yêu cầu bà Huỳnh Thị H và ông Hồ Văn T1 tự nguyện phát mãi tài sản để thực hiện nghĩa vụ với Ngân hàng. Trường hợp không thực hiện thì Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản để thu hồi nợ.

* Đối với bị đơn bà Huỳnh Thị H và ông Hồ Văn T1 đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, phiên họp hoà giải và xét xử, các văn bản tố tụng nhưng bà H và ông T1 vẫn không có ý kiến phản hồi, đồng thời cũng không có mặt tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đúng quy định; bị đơn chưa chấp hành đúng quy định, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Phát biểu về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 166, 298, 299, 318, 322, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà Huỳnh Thị H và ông Hồ Văn T1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng M1 tổng số tiền tính đến ngày 19/9/2024 là 492.001.000 đồng và phải trả lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết nợ. Tiếp tục duy trì phần đất là tài sản thế chấp để đảm bảo thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về thủ tục tố tụng:

    - Về thẩm quyền: Bà Huỳnh Thị H và ông Hồ Văn T1 có nơi cư trú tại khóm C, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; nội dung tranh chấp là hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    - Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T có yêu cầu xét xử vắng mặt; Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhưng bà Huỳnh Thị H và ông Hồ Văn T1 vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định.

    - Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn Ngân hàng M1 yêu cầu bị đơn bà Huỳnh Thị H và ông Hồ Văn T1 trả tiền gốc, tiền lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký giữa ngân hàng với bà Huỳnh Thị H và ông Hồ Văn T1 do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc, tiền lãi theo thỏa thuận, cam kết trong hợp đồng tín dụng. Bị đơn là cá nhân không có giấy phép đăng ký kinh doanh mục đích vay để tiêu dùng. Do đó, tranh chấp được xác định là tranh chấp về hợp đồng tín dụng quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự;

  2. Về nội dung tranh chấp: Ngày 08/9/2021, bà Huỳnh Thị H và ông Hồ Văn T1 có ký hợp đồng tín dụng số 155451.21.751.3860471.TD cùng khế ước nhận nợ số LD2220165163 với Ngân hàng thương mại cổ phần Q (MB) để vay số tiền 525.000.000 đồng, thời hạn vay đến ngày 20/6/2023, lãi suất vay 8,1%/năm. Ngoài ra, ngày 19/11/2020, bà Huỳnh Thị H và ông Hồ Văn T1 có đăng ký phát hành kiêm hợp đồng mở thẻ tín dụng số 472674xxxxxx5486 hạn mức mở thẻ 300.000.000 đồng.

    Đến thời hạn trả nợ gốc, trả lãi nhưng bà Huỳnh Thị H và ông Hồ Văn T1 không trả hết khoản nợ gốc và nợ lãi theo đúng cam kết trong hợp đồng là vi phạm Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Tính đến ngày 19/9/2024, tổng dư nợ của bà Huỳnh Thị H và ông Hồ Văn T1 tổng cộng 492.001.000 đồng (tròn số). Trong đó nợ gốc 308.533.368 đồng, nợ lãi 68.892.195 đồng và nợ thẻ tín dụng: 116.576.266 đồng. Do đó, ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Huỳnh Thị H và ông Hồ Văn T1 trả số tiền nêu trên là phù hợp với thỏa thuận của các bên theo hợp đồng tín dụng và có căn cứ theo khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

  3. Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế chấp: Hội đồng xét xử thấy rằng, bà H và ông T1 đã ký hợp đồng thế chấp bất động sản số 68.18.751.3860471.BD là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số BD 507866, số vào sổ cấp CH00828 do UBND huyện T cấp ngày 28/4/2011, thửa đất số 244, tờ bản đồ số 25, diện tích 180,8m²; đất tọa lạc tại khóm D, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau đứng tên bà Huỳnh Thị H đã được công chứng ngày 15/3/2018 tại Phòng C tỉnh Cà Mau và đã được đăng giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T.

    Xét thấy hợp đồng thế chấp được lập trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ đúng quy định pháp luật, đã được công chứng ngày 15/3/2018 tại Phòng C tỉnh Cà Mau và đã được đăng giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T, các đương sự không có tranh chấp ý kiến gì về việc thế chấp, về hợp đồng thế chấp đã ký. Do đó, việc nguyên đơn đề nghị phát mại tại sản thế chấp trong trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại hợp đồng thế chấp cũng như phù hợp với quy định tại khoản 7 Điều 323 Bộ luật dân sự nên được chấp nhận.

  4. Về chi phí tố tụng: Tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định: Đương sự phải chịu chi phí thẩm định tại chỗ nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận. Do yêu cầu của ngân hàng được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí thẩm định tại chỗ. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có tạm nộp số tiền chi phí thẩm định tại chỗ 400.000 đồng, đã chi trả xong, nguyên đơn yêu cầu được nhận lại. Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí tố tụng số tiền 400.000 đồng.
  5. Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đã dự nộp được nhận lại. Bị đơn bà Huỳnh Thị H và ông Hồ Văn T1 phải chịu án phí số tiền 23.680.000 đồng (tròn số) là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 147, Điều 157, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các Điều 298, 299, 317, 318; 319, 322, khoản 7 Điều 323 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 90, khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí lệ phí Tòa án;

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Q (MB) - Buộc bà Huỳnh Thị H và ông Hồ Văn T1 phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q (MB) số tiền 492.001.000 đồng (bốn trăm chín mươi hai triệu không trăm lẽ một nghìn đồng). Trong đó nợ gốc 308.533.368 đồng, nợ lãi 68.892.195 đồng và nợ thẻ tín dụng: 116.576.266 đồng, theo hợp đồng tín dụng số 155451.21.751.3860471.TD cùng khế ước nhận nợ số LD2220165163 và hợp đồng mở thẻ tín dụng số 472674xxxxxx5486 ngày 19/11/2020.

    Kể từ ngày tiếp theo ngày 19/9/2024, Khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.

    Duy trì Hợp đồng thế chấp bất động sản số 68.18.751.3860471.BD ngày 15/3/2018. Trường hợp bà Huỳnh Thị H và ông Hồ Văn T1 không trả hoặc trả không đầy đủ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q thì ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền phát mại, xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BD 507866, số vào sổ cấp CH00828 do UBND huyện T cấp ngày 28/4/2011, thửa đất số 244, tờ bản đồ số 25, diện tích 180,8m²; tọa lạc tại khóm D, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau đứng bà Huỳnh Thị H được công chứng ngày 15/3/2018 tại Phòng C tỉnh Cà Mau, được đăng giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T.

  2. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Huỳnh Thị H và ông Hồ Văn T1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng).

    Kể từ ngày Ngân hàng thương mại cổ phần Q có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Huỳnh Thị H và ông Hồ Văn T1 không thi hành xong khoản tiền trên, bà Huỳnh Thị H và ông Hồ Văn T1 còn phải chịu thêm khoản tiền lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.

  3. Về án phí: Bà Huỳnh Thị H và ông Hồ Văn T1 phải chịu án phí sơ thẩm, số tiền 23.680.000 đồng (Hai mươi ba triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng); Ngân hàng thương mại cổ phần Q được nhận lại số tiền 11.788.000 đồng theo biên lai thu số 0004840 ngày 10/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  4. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Trần Văn Thời;
  • - Chi cục THADS huyện Trần Văn Thời;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Văn Đoan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 305/2024/DS-ST ngày 23/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 305/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger