TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 305/2024/DS-ST Ngày: 19 - 8 - 2024 V/v tranh chấp “Hợp đồng đặt cọc và hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO - TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tuyền.
Các Hội thẩm nhân nhân dân:
- Ông Trương Hoàng Hoa.
- Ông Trần Văn Bé Ba.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Ái Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 18/2024/TLST-DS ngày 09 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng đặt cọc, yêu cầu bồi thường thiệt hại, hợp đồng vay tài sản”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2024/QĐXXST-DS ngày 02/7/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 166/2024/QĐST-DS ngày 29/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1971;
Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang;
Người đại diện theo ủy quyền của bà L: Chị Lý Nguyễn Huyền T, sinh năm 1989;
Địa chỉ: Ấp H, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang;
(Theo số ủy quyền 10327 ngày 19/12/2023)
- Bị đơn:
- Bà Võ Thị Thùy L1, sinh năm 1974;
- Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1973;
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang;
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1997;
- Anh Nguyễn Ngọc P1, sinh năm 1999;
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang;
(có mặt chị T, vắng mặt ông H, bà L1, anhPhong, anh P1)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại các biên bản hòa giải, nguyên đơn chị Huỳnh Thị L và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chị L2 Nguyễn Huyền T trình bày:
Do quen biết nên bà L có thỏa thuận mua phần đất thuộc thửa số 329, tờ bản đồ số 27, diện tích 1.000m², tọa lạc ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang của vợ chồng ông H, bà L1 với giá 330.000.000 đồng (Ba trăm ba mươi triệu đồng). Ngày 17/5/2021, ông H, bà L1 nhận số tiền đặt cọc là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), ông H, bà L1 có viết biên nhận “Giấy mua bán đất”, gia đình ông H, bà L1 ký tên đầy đủ. Số tiền còn lại ông H, bà L1 hứa tháng 02/2022, đưa sổ đỏ sang tên thì chị L sẽ giao đủ. Đến ngày 10/4/2022, ông H, bà L1 lấy tiếp của chị L số tiền 40.000.000 đồng, có ghi “Giấy mượn tiền” và ký tên. Sau đó, đến ngày 11/12/2022, ông H, bà L1 có xin hẹn lại đến tháng 3/2023 sẽ đưa sổ đỏ làm thủ tục sang tên cho bà L và bà L sẽ giao đủ tiền. Nhưng đến nay, ông H bà L1 vẫn không thực hiện như thỏa thuận, bà L hỏi thì cứ hứa hẹn, trốn tránh bà L. Trong thỏa thuận, cam kết nếu không làm đúng thì phải chịu bồi thường gấp 05 lần.
Do đó, nay bà L yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo buộc ông Nguyễn Ngọc H và bà Võ Thị Thùy L1 cùng liên đới trả bà L số tiền cọc 240.000.000 đồng (Hai trăm bốn mươi triệu đồng) và số tiền phạt cọc là 240.000.000 đồng (Hai trăm bốn mươi triệu đồng) do phía ông H, bà L1 đã vi phạm thỏa thuận, tổng số tiền là 480.000.000 đồng (Bốn trăm tám mươi triệu đồng), trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật.
Ngày 11/3/2024 bà L đã thay đổi yêu cầu khởi kiện như sau:
- Đối với số tiền đặt cọc mua phần đất thuộc thửa số 329, tờ bản đồ số 27, diện tích 1.000m², tọa lạc ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang của vợ chồng ông H, bà L1 với giá 330.000.000 đồng (Ba trăm ba mươi triệu đồng). Ngày 17/5/2021, ông H, bà L1 nhận số tiền đặt cọc là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), ông H, bà L1 có viết biên nhận “Giấy mua bán đất”, gia đình ông H, bà L1 ký tên đầy đủ. Số tiền còn lại ông H, bà L1 hứa tháng 02/2022, đưa số đỏ sang tên thì bà L sẽ giao đủ. Nhưng đến nay, ông H bà L1 vẫn không thực hiện như thỏa thuận, bà L hỏi thì cứ hứa hẹn, trốn tránh bà L. Trong thỏa thuận, cam kết nếu không làm đúng thì phải chịu bồi thường gấp 05 lần. Nay bà L yêu cầu ông H, bà L1 trả số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng và phạt cọc 200.000.0000 đồng vì đã vi phạm thỏa thuận.
- Ngoài ra, ngày 10/4/2022, ông H, bà L1 có mượn bà L số tiền 40.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận, có ghi “Giấy mượn tiền” và ký tên. Đến nay, ông H bà L1 vẫn chưa trả cho bà L khoản tiền nào.
Do đó, nay bà L yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo giải quyết như sau:
- Buộc ông Nguyễn Ngọc H và bà Võ Thị Thùy L1 cùng liên đới trả bà L số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng) gồm tiền cọc 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) và tiền phạt cọc là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật.
- Buộc ông Nguyễn Ngọc H và bà Võ Thị Thùy L1 cùng liên đới trả bà L số tiền vay 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) và lãi suất 0.83%/tháng từ ngày 10/4/2022 đến ngày xét xử, tạm tính đến ngày 10/4/2024 là 24 tháng, 40.000.000 đồng × 0.83% × 24 tháng 7.968.000 đồng, tổng số tiền vay là 47.968.000 đồng, trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật.
* Đối với bà Võ Thị Thùy L1, anh Nguyễn Ngọc H, anh Nguyễn Ngọc P và anh Nguyễn Ngọc P1 từ khi Tòa án thụ lý cho đến nay, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo qui định của pháp luật nhưng các đương sự vẫn vắng mặt không rõ lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà L.
* Tại phiên tòa:
- Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên không thỏa thuận về việc giải quyết vụ án.
- Chị Lý Nguyễn Huyền T đại diện nguyên đơn trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu buộc vợ chồng bà L1, ông H phải thực hiện nghĩa vụ trả cho bà L số tiền đặc cọc 200.000.000 đồng, tiền phạt cọc do không thực hiện như hợp đồng đã giao kết là 200.000.000 đồng, tổng cộng là 400.000.000 đồng. Còn đối với số tiền vay thì phía nguyên đơn có thay đổi yêu cầu khởi kiện: yêu cầu ông H, bà L1 cùng liên đới trả bà L số tiền vay 40.000.000 đồng và lãi suất 0.83%/tháng từ ngày 10/5/2022 (ngày vi phạm việc trả tiền) đến ngày xét xử tính tròn là 27 tháng là 40.000.000 đồng × 0.83% × 27 tháng = 8.964.000 đồng, trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu:
+ Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật; việc chấp hành pháp luật của đương sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân thủ đúng quy định pháp luật.
+ Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L, buộc bà L1 và ông H phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà L số tiền cọc 200.000.000 đồng và phạt tiền cọc 200.000.000 đồng vì đã không thực hiện giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo thỏa thuận và trả số tiền vay 40.000.000 đồng và tiền lãi 8.964.000 đồng do vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Bà L1, ông H có nghĩa vụ chịu án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn yêu cầu trả tiền cọc và phạt cọc khi mua đất và trả nợ vay và bị đơn đang cư trú tại ấp B, xã B, huyện C nên Tòa án xác định tranh chấp là hợp đồng đặt cọc và hợp đồng vay tài sản và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 280, Điều 328, Điều 463 của Bộ luật dân sự.
[2] Về tố tụng:
- Tại phiên tòa, phía nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện đối với số tiền vay, yêu cầu ông H và chị L liên đới trả 40.000.000 đồng và lãi tính từ ngày 10/5/2022 đến ngày xét xử với lãi suất 0,83%/tháng. Xét thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên căn cứ Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi yêu cầu khởi kiện nguyên đơn đối với hợp đồng vay.
- Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, ông H và bà L1, anh P, anh P2 vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nên căn cứ Điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt ông H và bà L1, anh P, anh P2.
Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị L khởi kiện ông Nguyễn Ngọc H và bà Võ Thị Thùy L1 có địa chỉ tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang phải thực hiện nghĩa vụ trả cho chị số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng, yêu cầu phạt cọc và tiền vay 40.000.000 đồng, trả lãi nên xác định quan hệ tranh chấp là “Hợp đồng đặt cọc, yêu cầu bồi thường thiệt hại, hợp đồng vay tài sản” tại Điều 328 và Điều 463 Bộ luật dân sự và thuộc trường hợp được qui định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo.
[3] Về nội dung khởi kiện: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng, yêu cầu phạt cọc và tiền vay 40.000.000 đồng, trả lãi của tiền vay.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[4.1] Về tiền cọc:
- Qua lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tại phiên tòa và căn cứ vào các biên bản hòa giải, cùng các lời khai của đương sự, Hội đồng xét xử nhận thấy giữa bà L và bà L1, ông H có xác lập hợp đồng mua bán đất, cụ thể theo “Giấy mua bán đất” ngày 17/5/2021 thì bà L1 và ông H có thỏa thuận mua bán một phần đất thuộc thửa số 329, tờ bản đồ số 27, diện tích 1.000m², tọa lạc ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang của vợ chồng ông H, bà L1 với giá 330.000.000 đồng cho bà L, đặt cọc số tiền 200.000.000 đồng, số tiền còn lại là 130.000.000 đồng ông H và bà L hứa tháng 02/2022 đưa số đỏ sang tên thì bà L sẽ giao đủ và hoàn tất thủ tục sang tên cho bà L. Hình thức văn bản là giấy mua bán đất nhưng nội dung là đặt cọc để giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là hợp đồng đặt cọc và được xem xét theo quy định pháp luật.
- Theo giấy mua bán đất ngày 17/5/2021, thể hiện số tiền đặt cọc là 200.000.000 đồng. Thời gian thực hiện việc giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là tháng 02/2022. Tuy nhiên, đến hạn phía ông H và bà L1 không thực hiện thì hai bên có thỏa thuận lại vào ngày 11/12/2022 là ông H và bà L xin hẹn lại tháng 3/2023 sẽ giao sổ đỏ và sẽ nhận đủ tiền. Điều này thể hiện bà L đã tạo điều kiện cho phía ông H, bà L1 thực hiện giao kết nhưng sau đó đến hạn ông H và bà L1 vẫn vi phạm thỏa thuận dẫn đến hợp đồng chuyển nhượng không giao kết được, nên phía bà L yêu cầu đã lại tiền cọc 200.000.000 đồng là có cơ sở theo khoản 2 Điều 328 của Bộ luật dân sự được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4.2] Về phạt cọc: Tại giấy mua bán đất có ghi rõ “nếu ai không làm đúng theo lời hứa của 1 đền E phải bồi thường trước pháp luật” và tại thỏa thuận ngày 11/12/2022 cũng ghi “Nếu ai thực hiện không đúng thì phải chịu bồi thường như nội dung nêu trên”. Như nhận định trên, phía ông H và bà L1 đã vi phạm thỏa thuận giữa hai bên về việc thực hiện hợp đồng nên phải có nghĩa vụ chịu phạt cọc theo thỏa thuận. Trong vụ án, phía nguyên đơn chỉ yêu cầu phía bà L1 và ông H phạt cọc 200.000.000 đồng là phù hợp quy định pháp luật và có lợi cho phía ông H và bà L1 nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo Điều 328 của Bộ luật dân sự.
[4.3] Về nghĩa vụ trả tiền: Trong giấy mua bán đất có các con của ông H và bà L1 ký tên nhưng theo đại diện nguyên đơn trình bày vì trong hộ nên ký thực tế người nhận tiền là vợ chồng ông H và bà L1 nên yêu cầu ông H và bà L1 trả tiền, không yêu cầu anh P và anh P2 liên đới trả nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4.4] Về tiền vay: Nguyên đơn cho rằng ngày 10/4/2022, bà L1 có mượn bà L 40.000.000 đồng, thỏa thuận 1 tháng sẽ trả vốn lãi nhưng không thực hiện nên nay bà L yêu cầu bà L1 và ông H liên đới trả số tiền này và cộng lãi tính từ ngày 10/5/2022 là ngày hứa trả nhưng không thực hiện với lãi suất 0,83%/tháng.
[4.4.1] Số tiền: Theo giấy mượn tiền ngày 10/4/2022 có chữ ký của bà L1 thể hiện có mượn bà L 40.000.000 đồng, trong giấy mượn tiền không thể hiện thời hạn trả nhưng đại diện nguyên đơn trình bày thỏa thuận 1 tháng trả nên cần chấp nhận lời trình bày này vì quá trình giải quyết vụ án phía bị đơn đều vắng mặt không lý do và không có văn bản trình bày ý kiến nên xem như không phản đối theo khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Phía bà L1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên phải có nghĩa vụ trả tiền theo Điều 280 của Bộ luật dân sự.
[4.4.2] Về nghĩa vụ liên đới: Phía nguyên đơn trình bày, bà L1 vay tiền để phục vụ cho gia đình bà L, không nói cụ thể để làm gì. Sau đó, phía bà L có đến gia đình gặp ông H và bà L1 đòi tiền cọc và số tiền này, ông H đều biết số tiền mà bà L1 vay. Phía ông H, bà L1 vắng mặt không có ý kiến trình bày. Điều đó thể hiện không phản đối với yêu cầu của nguyên đơn nên phía ông H phải có nghĩa vụ liên đới trả số tiền vay cùng bà L là có cơ sở phù hợp Điều 27, 30, 37 của Luật hôn nhân và gia đình, Điều 288 Bộ luật dân sự được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4.4.2] Về tiền lãi: Trong giấy mượn tiền không thỏa thuận lãi, nên việc tính lãi chỉ được xem xét lãi chậm trả kể từ ngày vi phạm nghĩa vụ thanh toán, theo nhận định trên ngày thỏa thuận trả tiền là 10/5/2022 nên bà L1 và ông H khi không thanh toán thì phải có nghĩa vụ trả lãi theo khoản 4 Điều 466 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, cụ thể tiền lãi mà phía bị đơn phải trả cho nguyên đơn là 40.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 27 tháng (từ 10/5/2022 đến 19/8/2024 làm tròn 27 tháng) = 8.964.000 đồng.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về hợp đồng đặt cọc và hợp đồng vay tài sản, tổng cộng 448.964.000 đồng.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên được hoàn tiền tạm ứng án phí. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quối hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[6] Ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận Vì các lẽ trên;
QUYẾT
ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 244, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Áp dụng Điều 280, Điều 288, Điều 328, Điều 357, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự; Mục 1 Phần III Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao-Viện kiểm sát nhân dân tối cao-Bộ tư pháp-Bộ T1 hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quối hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị L.
- Buộc ông Nguyễn Ngọc H và bà Võ Thị Thùy L1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Huỳnh Thị L 448.964.000 đồng (Bốn trăm bốn mươi tám triệu chín trăm sáu mươi bốn ngàn đồng) (trong đó 200.000.000 đồng tiền đặt cọc, 200.000.000 đồng tiền phạt cọc, 40.000.000 đồng tiền vay và 8.964.000 đồng tiền lãi).
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
2. Về án phí:
- Bà Võ Thị Thùy L1 và ông Nguyễn Ngọc H phải chịu 21.959.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- H1 lại bà Huỳnh Thị L 12.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007137 ngày 28/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
3. Về quyền kháng cáo:
Bà L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà L1, ông H, anh P, anh P2 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thanh Tuyền |
Bản án số 305/2024/DS-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO - TỈNH TIỀN GIANG về hợp đồng đặt cọc và hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 305/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hợp đồng đặt cọc và hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO - TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị L yêu cầu Nguyễn Ngọc H và Võ Thị Thùy L1 trả tiền cọc và vay tài sản
