Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 305/2024/HS-ST

Ngày 05 tháng 6 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Phong;

Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Thu Giang;

Bà Vũ Thị Cự.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Quang Anh, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Trần Tuấn Khanh, Kiểm sát viên.

Ngày 05/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2024/TLHS-ST ngày 01/02/2024; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 189/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị H, sinh năm 1984; HKTT, chỗ ở: Thôn P, xã X, huyện L, tỉnh V; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Học phổ thông: 2/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1960 và con bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1963; Chồng: Phạm Xuân S, sinh năm 1979 (đã ly hôn); Bị cáo có 02 con, sinh năm 2002 và sinh năm 2006; Gia đình có 04 chị em, bị cáo thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị bắt tạm giam từ ngày 05/12/2023 đến nay tại Trại tạm giam số 2 - Công an Thành phố Hà Nội (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Hồng Tâm (vắng mặt), Luật sư Trần Thị Loan (có mặt) - Công ty luật TNHH Trí Công và Thiện Tâm, Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị Hồng N, sinh năm 2002; Trú tại: Thôn P, xã X, huyện L, tỉnh V (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đầu tháng 11/2022, Huang Zhi C - sinh năm 2007 và Li Ming K - sinh năm 2006 (quốc tịch Trung Quốc), cùng trú tại: Thôn Đ, trấn T, huyện D, thành phố Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, lên mạng internet tìm kiếm việc làm và bị một nhóm đối tượng (chưa rõ lý lịch) đưa nhập cảnh trái phép vào Việt Nam.

Tối ngày 13/11/2022 khi đến thành phố Vũng Tàu, do nghi ngờ bị lừa nên Huang Zhi C và Li Ming K đã bỏ trốn. Sau đó, Huang Zhi C liên lạc với bố là ông Huang Ming G để tìm cách về Trung Quốc, Huang Ming G liên hệ với Guang Ming X (không rõ thông tin) để nhờ giúp, Guang Ming X gọi điện cho bị cáo Nguyễn Thị H qua tài khoản Wechat (Hoàng Linh) trao đổi về việc Huang Zhi C và Li Ming K bị lừa đưa sang Việt Nam và bảo bị cáo H tìm cách để đưa về Trung Quốc. Bị cáo Nguyễn Thị H cũng nhận được đề nghị này từ ông Huang Ming G (bố của Huang Zhi C), ông Huang Ming G đã gửi định vị vị trí của con mình cho H, qua đó H xác định được Huang Zhi C và Li Ming K đang ở thành phố Vũng Tàu.

Nguyễn Thị H và Huang Ming G thống nhất với nhau về việc đưa Huang Zhi C và Li Ming K ra Đại sứ quán Trung Quốc trình báo để nhờ can thiệp trợ giúp và mọi chi phí ăn ở, sinh hoạt, đi lại tại Việt Nam sẽ do H ứng ra chi trả, Huang Ming G sẽ thanh toán trả lại sau, đồng thời H cho Huang Ming G tài khoản Wechat của một người làm dịch vụ đổi tiền (chưa xác định) làm trung gian thanh toán, Huang Ming G đã chuyển (tạm ứng) trước cho H 1.500 nhân dân tệ để H sử dụng khi cần. Sau đó bị cáo H liên hệ với người sử dụng tài khoản Zalo tên “Giang” nhờ tìm chỗ ở cho Huang Zhi C và Li Ming K tại Bình Dương và hướng dẫn Huang Zhi C bắt taxi chở Huang Zhi C và Li Ming K từ Vũng Tàu đến ở tại Bình Dương để chờ đưa ra Hà Nội. Bị cáo H đã chuyển khoản thanh toán cho người lái xe taxi khoảng 700.000 đồng, nhưng không nhớ số tài khoản nhận tiền của người này. Huang Zhi C và Li Ming K ở tại Bình Dương khoảng 03 ngày, thì bị cáo H được “Gi” gọi điện thông báo đã tìm được xe đưa Huang Zhi C và Li Ming K ra Hà Nội, bị cáo H nhờ “Gi” mua đồ dùng cá nhân cho 02 người Trung Quốc và bắt xe cho 02 đối tượng này ra Hà Nội, H đã thanh toán chuyển khoản trả cho “Gi” 3 triệu đồng (nhưng không nhớ số tài khoản của người này). Khi Huang Zhi C và Li Ming K lên xe ô tô, H hướng dẫn người lái xe cho Huang Zhi C và Li Ming K xuống tại khu vực ngã 3 Văn Quán (Lập Thạch, Vĩnh Phúc).

Chiều tối ngày 17/11/2022, Huang Zhi C và Li Ming K đến địa chỉ trên, bị cáo H thuê taxi (không nhớ người lái) chở 02 người này đi thuê nhà nghỉ, đến sáng ngày 18/11/2022 thì đưa đến Đại sứ quán Trung Quốc. H chuyển khoản thanh toán cho người lái xe taxi khoảng 800.000 đồng (không nhớ số tài khoản của người này).

Trưa ngày 18/11/2022, Huang Ming G thông báo cho H biết việc do Huang Zhi C và Li Minh K không có đủ giấy tờ theo quy định nên nhân viên Đại sứ quán Trung Quốc đã hướng dẫn 02 người này ra Cơ quan Công an trình báo, nhưng do không muốn đến Cơ quan Công an trình báo nên Huang Ming G đã nhờ bị cáo H lo chỗ ăn ở cho 02 người này tại Hà Nội và tìm cách để đưa về Trung Quốc. H đã liên hệ với Đinh Văn B - là lái xe taxi đón, mua đồ dùng cá nhân và thuê nhà nghỉ cho Huang Zhi C và Li Ming K, nhưng do không ở Hà Nội và biết 02 người Trung Quốc này không có đầy đủ giấy tờ nên B đã nhờ Nhữ Văn Đ, cũng là lái xe taxi đến Đại sứ quán Trung Quốc đón Huang Zhi C và Li Ming K đưa đi mua quần áo, thuê nhà nghỉ TB tại địa chỉ số 67, phường L, quận M, Thành phố Hà Nội cho Huang Zhi C và Li Ming K ở.

Ngày 19/11/2022, bị cáo H nhờ con gái là Phạm Thị Hồng N chuyển khoản thanh toán trước cho B số tiền 3.000.000 đồng, chi phí sinh hoạt của 02 người Trung Quốc tại Hà Nội. Sau đó B tiếp tục được bị cáo H nhờ đưa Huang Zhi C và Li Ming K lên biên giới để về Trung Quốc. Bị cáo H và B thống nhất lộ trình đi theo đường cửa khẩu Lạng Sơn.

Tiếp theo bị cáo H liên hệ với tài khoản Zalo “Phan Nguyen” để hỏi mối quan hệ đưa người sang Trung Quốc và được người này cho số điện thoại để liên hệ là 0345.227.xxx đăng ký tài khoản Zalo “nhà xe MT. Lạng Sơn”, bị cáo H đã liên hệ để thuê đưa Huang Zhi C và Li Ming K về Trung Quốc với chi phí 25.000 nhân dân tệ. Thời điểm đón người vào chiều ngày 19/11/2022, tại nhà nghỉ TB, Hà Nội.

Sáng ngày 20/11/2022, Huang Zhi C gọi cho bị cáo H nói có người đến đón, H bảo Huang Zhi C ghi lại hình người đón gửi cho H và bảo B chụp biển kiểm soát xe ô tô đón để bị cáo H gửi đến nhà xe MT xác thực. Sau khi biết không phải là người của nhà xe MT, bị cáo H bảo B không cho đón Huang Zhi C và Li Minh K.

Đến tối ngày 20/11/2022, khi đi ăn tối cùng với Nhữ Văn Đ, Huang Zhi C và Li Ming K bị một nhóm đối tượng đuổi đánh. Vụ việc đã được Công an phường L, Hoàng M, Hà Nội tiếp nhận giải quyết.

Cũng trong tối ngày 20/11/2022, B đã đưa cho Nhữ Văn Đ 03 triệu đồng (do H chuyển khoản) để thanh toán chi phí ăn ở sinh hoạt cho Huang Zhi C và Li Ming K; số tiền 1500 nhân dân tệ Huang Ming G chuyển, H đã sử dụng vào việc chi tiêu cá nhân.

Cáo trạng số: 50/CT-VKS-P1 ngày 29/1/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép” theo khoản 1 Điều 348 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa, buộc tội bị cáo về tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 348; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 05/12/2023.

Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội. Đề nghị xem xét về nguyên nhân phạm tội của bị cáo, mục đích của bị cáo chỉ giúp người Trung Quốc về nước. Bị cáo không tiền án, tiền sự, nhận thức pháp luật hạn chế, bị cáo đã ly hôn, đang nuôi bố mẹ già, gia đình bị cáo khó khăn, gia đình bị cáo có công với cách mạng. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.

Lời nói sau cùng, bị cáo bày tỏ sự ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định sau:

[1] Về tố tụng:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, điều tra viên và kiểm sát viên đã thực hiện trong vụ án về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đó đều hợp pháp và đúng pháp luật.

[2] Về nội dung:

Tại phiên tòa bị cáo nhận tội, thừa nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người liên quan; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận:

Huang Zhi C và Li Ming K, đều quốc tịch Trung Quốc lên mạng internet tìm kiếm việc làm và bị một nhóm đối tượng (chưa rõ lý lịch) đưa nhập cảnh trái phép vào Việt Nam. Do nghi ngờ bị lừa nên Huang Zhi C liên lạc với bố là ông Huang Ming G để tìm cách về Trung Quốc. Qua Guang Ming X (không rõ thông tin), ông Huang Ming G liên hệ với bị cáo Nguyễn Thị H và nhờ bị cáo tìm cách để đưa Huang Zhi C và Li Ming K về Trung Quốc. Nhận được đề nghị từ ông Huang Ming G, bị cáo H đã nhờ người đưa Huang Zhi C và Li Ming K ra Hà Nội, mua đồ dùng cá nhân, thuê nhà nghỉ TB tại địa chỉ số 67, phường L, quận M, Thành phố Hà Nội để ở và tìm cách đưa về Trung Quốc theo đường cửa khẩu Lạng Sơn. Qua điều tra, Huang Zhi C và Li Ming K khai nhận do bị cáo Nguyễn Thị H tổ chức cho ở lại Việt Nam trái phép để đưa về Trung Quốc.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị H đã phạm tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép” theo khoản 1 Điều 348 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất nhập cảnh, cư trú ở Việt Nam, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trong nước. Bị cáo là người có đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, biết rõ việc tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Do vậy cần có hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên xét thấy bị cáo không có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhận thức pháp luật hạn chế; gia đình có công với cách mạng; hoàn cảnh gia đình khó khăn đó là tình tiết để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[3] Các vấn đề khác:

  • - Đối với Huang Zhi C và Li Ming K nhập cảnh trái phép vào Việt Nam, xác minh chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này. Phòng Quản lý xuất nhập cảnh - Công an Thành phố Hà Nội, đã ra Quyết định trục xuất theo thủ tục hành chính là phù hợp.
  • - Đối với Đinh Văn B và Nhữ Văn Đ hành vi có dấu hiệu giúp sức cho Nguyễn Thị H, nhưng xét hành vi có mức độ; không có sự bàn bạc thống nhất từ trước với H; mục đích tạo điều kiện cho các đối tượng ở lại Việt Nam để đưa về Trung Quốc, không ở lại lâu dài tại Việt Nam; chưa được hưởng lợi từ việc này. Do vậy không xem xét việc xử lý hình sự và do đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính nên Cơ quan An ninh điều tra không xử lý là có căn cứ.
  • - Đối tượng sử dụng tài khoản Zalo tên “Gi”; 02 đối tượng lái xe taxi được H thuê chở đón Huang Zhi C và Li Ming K tại Bình Dương và Vĩnh Phúc, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lý lịch nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh xử lý là phù hợp.
  • - Xác minh thông tin chủ thuê bao số điện thoại 0345.227.xxx (tài khoản Zalo nhà xe MT Lạng Sơn), đăng ký tên Lê Thị T. Chị T khai không đăng ký sử dụng số điện thoại trên; không biết các đối tượng liên quan trong vụ án nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.
  • - Chị Dương Thị L (chủ nhà nghỉ TB), cho Huang Zhi C và Li Ming K thuê phòng nhưng không biết các đối tượng nhập cảnh Việt Nam trái phép nên Cơ quan điều tra không xử lý về hành vi không khai báo tạm trú cho khách, Cơ quan Công an đã ra Quyết định xử phạt hành chính là phù hợp.

[4] Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[5] Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát buộc tội bị cáo về tội đã truy tố và đề nghị mức hình phạt là phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép”.

1. Áp dụng: Khoản 1 Điều 348; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số: 326, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án xử phạt bị cáo:

Nguyễn Thị H 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 05/12/2023.

2. Án phí: Bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKS Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKS và Cục THADS Tp Hà Nội;
  • - Công an TP Hà Nội;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đăng Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 305/2024/HS-ST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự - tổ chức cho người khác ở lại việt nam trái phép

  • Số bản án: 305/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: An so 305 - 5.6.24 Nguyễn Thị H -Cho ng ở lại VN trái phép
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger