Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 305/2025/HS-PT

Ngày: 25-11-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Vĩnh Chuyển

Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Long

Ông Bùi Trọng Danh

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Bá Hưng- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Việt Hà- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng cơ sở 1, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 243/2025/TLPT-HS ngày 21 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Trần Công T, do có kháng cáo của bị cáo T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2025/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Đà Nẵng.

Bị cáo có kháng cáo:

Trần Công T, sinh ngày 04/12/1988 tại Quảng Nam (nay là Đà Nẵng); nơi ĐKHKTT: Khối phố P, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam (nay là khối phố P, phường A, thành phố Đà Nẵng); nơi cư trú: Đảo H, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (nay là Đảo H, phường N, tỉnh Khánh Hòa);Nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần C và bà Nguyễn Thị H (đều còn sống). Có vợ là Đinh Thị P (đã ly hôn), chưa có con. Tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân:

+ Ngày 24/8/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt tù có thời hạn 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm a, e khoản 2 Điều 138 BLHS năm 1999 và 09 (chín) tháng tù về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" theo khoản 1 Điều 250 BLHS năm 1999. Tổng hợp hình phạt là 05 (năm) năm 03 (ba) tháng. (Bản án số 168/2016/HSPT).

+ Ngày 07/01/2016, bị Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 02 (hai) năm tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm e khoản 2 Điều 138 BLHS năm 1999. (Bản án số 03/HSST)

+ Ngày 29/02/2016, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 03 (ba) năm về tội "Trộm cắp tài sản", theo khoản 2 Điều 138 BLHS năm 1999.Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm tù của bản án số 03/HSST ngày 07/01/2016 của Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế, buộc chấp hành chung cho cả hai bản án là 05 (năm) năm. (Bản án số 22/HSPT).

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/5/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01- Công an thành phố Đ. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn N và Trần Công T có quen biết với nhau, T biết N và N1 (chưa xác định được lai lịch) thường trộm cắp xe mô tô của người khác. Ngày 24.7.2015, N cùng T bàn bạc và thống nhất thuê nhà để cất giấu xe trộm cắp. Tây tìm và thuê được căn nhà của bà A (chưa rõ lai lịch) tại thôn T, P. Điện Thắng N, TX. Đ, T. Quảng N1. N và Tây S lại nhà, dùng tôn bịt kín các cửa nhằm tránh sự phát hiện của người dân và cơ quan Công an.

Khoảng 18 giờ, ngày 26/7/2015, N và N1 rủ nhau đi trộm xe mô tô, theo thống nhất từ trước, N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh - trắng (xe này của N và đã bán cho người khác, không còn nhớ biển số) chở N1 đến đường B (đoạn gần đuôicầu Rồng), thuộc P. P, Q. H, TP .. N1 xuống đi bộ tìm xe để trộm cắp, còn N điều khiển xe đi lòng vòng chỗ khác nhằm tránh sự nghi ngờ của người khác.

Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, N1 trộm được xe mô tô hiệu Honda SH Mode, màu đỏ - đen, biển số: 43C1-484.52 của chị Lê Thị Thanh N2 đang để tại đối diện nhà số B B, P. P, Q. H, TP .. Bên trong cốp xe có 01(một) túi xách bằng da; 01(một) điện thoại di động hiệu N3 màu đỏ, 03(ba) USB loại 4Gb và số tiền 2.000.000 đồng(Hai triệu đồng). Sau khi trộm được xe, N1 điện thoại báo cho N biết và hẹn gặp nhau tại khu vực Ngã ba Huế, TP ..

Sau đó, N điện thoại báo cho Trần Công T biết và giao xe cho T mang về cất giấu ở nhà của T đã thuê tại thôn T, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Sau đó N và T tháo biển số của xe này ra và gắn biển số 43D1 - 323.91 vào để sử dụng nhằm tránh sự phát hiện của cơ quan Công an. Vài ngày sau, T nói N bán lại xe này cho T để làm phương tiện sử dụng.

Tại căn nhà trên, N và T còn cất giấu nhiều xe mô tô trộm cắp khác và đã được Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam xử lý trong vụ án khác.

Vật chứng thu giữ:

Ngày 07.8.2015, Công an thị xã Đ kiểm tra nhà của bà A thu giữ từ Trần Công Tây: 01(một) xe mô tô hiệu Honda SH Mode, màu đỏ - đen, gắn biển số 43D1 - 323.91, số máy: JF51E0223020, số khung: 5112FY013382.

Theo Kết luận định giá tài sản số 79 ngày 31/8/2015 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, UBND quận H, kết luận: xe mô tô SH Mode, màu đỏ đen, biển số: 43C1-484.52 nêu trên có trị giá 51.300.000 đồng.

Theo Kết luận giám định số 483 ngày 20.6.2025 của Phòng K Công an T kết luận: Biển số xe mô tô 43-D1 323.91 là giả.

Đối với 01(một) túi xách bằng da; 01(một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đỏ (không rõ chủng loại), 03 USB và số tiền 2.000.000 đồng (Hai ngàn đồng). Theo N và T khai khi nhận xe từ N1 thì không có. Theo chị N2 khai thì các tài sản này mua đã lâu, không nhớ rõ đặc điểm, không nhớ giá mua là bao nhiêu, các tài sản này đã cũ, không còn giá trị sử dụng nên không yêu cầu định giá và không yêu cầu bồi thường.

Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2025/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Đà Nẵng đã quyết định:

Về tội danh: Tuyên bị cáo Trần Công T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt: Bị cáo Trần Công T 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 28/5/2025.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định phần tội danh và hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn N, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 24/9/2025, bị cáo Trần Công T1 đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T giữ nguyên nội dung kháng cáo, xin HĐXX cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo T trong hạn luật định, nên đảm bảo, hợp lệ theo trình tự thủ tục tố tụng phúc thẩm.

Về nội dung: Xét Bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2025/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Đà Nẵng xét xử bị cáo Trần Công T về tội về tội “Trộm cắp tài sản” theo tình tiết định khung quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người đúng tội, đúng pháp luật. Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm, đã đánh giá đúng tính chất vụ án, vai trò đồng phạm và hậu quả của hành vi, đồng thời đã xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để làm căn cứ xử phạt bị cáo T 02 (hai)năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo nhưng không có tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 BLTTHS đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Công T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Trần Công T có đơn kháng cáo theo đúng quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên kháng cáo của bị cáo là hợp pháp.

[2]Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Công T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết, xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được Cơ quan điều tra chứng minh có tại hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận: Do cần tiền tiêu xài cá nhân, ngày 24.7.2015, Nguyễn Văn N và Trần Công T đã bàn bạc, thống nhất thuê nhà để cất giấu xe trộm cắp được. Ngày 26.7.2015, tại đổi diện nhà số B B, P. P, Q. H, TP .. N và N1 đã trộm cắp xe mô tô Honda SH Mode, biển số 43C1-484.52 và 2.000.000 đồng (Hai ngàn đồng) của chị Lê Thị Thanh N2. Ngay sau đó, N giao cho T mang xeđi cất giấu tại nhà do T thuê. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 53.300.000 đồng(Năm mươi ba triệu ba trăm ngàn đồng).

Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2025/HS-ST ngày 12/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Đà Nẵng đã kết án bị cáo Trần Công T về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Công T, thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm nghiêm trọng đến khách thể là quyền sở hữu về tài sản luôn được pháp luật bảo vệ, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội tại địa phương; Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt tù và cách ly bị cáo ra ngoài xã hội, để răn đe giáo dục, cải tạo bị cáo là cần thiết. Xét khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự qua đó xử phạt bị cáo Trần Công T mức hình phạt 02 (hai) năm tù là có căn cứ pháp luật. Tại phiên tòa cấp phúc thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cũng như chấp nhận đề nghị của đại diện VKS nhân dân thành phố Đ tại phiên tòa, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do không được chấp nhận kháng cáo, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật tại điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[5] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. 1. Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo củabị cáo Trần Công T; Giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
  2. 2. Căn cứ: Điểm a, c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Xử phạt: Bị cáo Trần Công T: 02(hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 28.5.2025.

  3. 3.Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Trần Công T phải chịu 200.000 đồng(Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

  4. 4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. 5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (25/11/2025).

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Đà Nẵng;
  • - TAND khu vực 1;
  • - Bị cáo;
  • - Người TGTT khác;
  • - Các cơ quan liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Vĩnh Chuyển

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 305/2025/HS-PT ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự phúc thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 305/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Công T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger