TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - AN GIANG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 305/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 04/12/2025
Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Nguyễn Thanh Huy;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Hoa;
Ông Nguyễn Văn Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mộng Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - An Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - An Giang tham gia phiên tòa: Thuộc trường hợp Viện Kiểm sát không tham gia phiên tòa.
Ngày 04 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 235/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2025 về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị H, sinh năm: 1989. Địa chỉ: Ấp B, xã B, tỉnh An Giang (Có đơn xin vắng mặt).
- - Bị đơn: Anh Trần Quốc V, sinh năm: 1988. Địa chỉ: Ấp B, xã B, tỉnh An Giang (Có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Huỳnh Thị H trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2008, chị và anh Trần Quốc V tự quen biết, sau đó tìm hiểu, yêu thương nhau, sau đó tiến đến hôn nhân, chung sống với nhau một thời gian mới đăng ký kết hôn và được UBND xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 51/2016, ngày 22/4/2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị về sinh sống tại ấp B, xã B, tỉnh An Giang.
Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc, nhưng khoảng đầu năm 2025, giữa chị và anh V thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, hay cự cãi với nhau, vợ chồng không hàn gắn được trong cuộc sống, nên chị và anh V đã ly thân từ tháng 6/2025 cho đến nay. Vì các lý do trên, chị nhận thấy vợ, chồng không thể tiếp tục cuộc sống như thế này được nữa, chị muốn giải thoát cuộc hôn nhân này, để mỗi người có cuộc sống tốt đẹp hơn, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh V.
- Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau, chị và anh V có hai người con chung tên Trần Gia H1, sinh ngày 25/5/2009; Trần Thị Kiều V1, sinh ngày 06/8/2014. Từ khi ly thân đến nay hai con đang ở với chị. Nên khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con đến tuổi trưởng thành. Chị không yêu cầu anh V phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung: Chị và anh V tự thoả thuận, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Chị và anh V không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Bị đơn anh Trần Quốc V trình bày tại bản tự khai như sau:
Anh thống nhất với trình bày của chị H về hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung và nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị là đúng. Đối với yêu cầu khởi kiện của chị H, anh có ý kiến như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh đồng ý ly hôn với chị Huỳnh Thị H.
- Về quan hệ con chung: Anh đồng ý giao hai người con chung tên Trần Gia H1, sinh ngày 25/5/2009; Trần Thị Kiều V1, sinh ngày 06/8/2014 cho chị H được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Anh không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung: Anh và chị H tự thoả thuận, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Chị và anh V không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
2
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án chị Huỳnh Thị H xin được ly hôn và nuôi con với anh Trần Quốc V. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn anh Trần Quốc V có nơi cư trú tại ấp B, xã B, tỉnh An Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Huỳnh Thị H, bị đơn anh Trần Quốc V có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị H và anh Trần Quốc V tự quen biết, sau đó tìm hiểu, yêu thương nhau, tiến đến hôn nhân, chung sống với nhau một thời gian mới đăng ký kết hôn và được UBND xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 51/2016 ngày 22/4/2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị về sinh sống tại ấp B, xã B, tỉnh An Giang. Như vậy, hôn nhân giữa chị H với anh V là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét yêu cầu của chị H về việc xin ly hôn với anh V thấy rằng: Trong quá trình chung sống giữa chị H và anh V có phát sinh mâu thuẫn, mà theo trình bày của chị H và anh V là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau, không có tiếng nói chung, nên chị H và anh V đã ly thân từ tháng 6/2025 cho đến nay. Chị H xác định trong thời gian chị và anh V sống ly thân với nhau, thì giữa chị và anh V không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa, cũng không thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành giải thích pháp luật và động viên để hai bên đoàn tụ gia đình, nhưng chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với anh V. Đồng thời, anh V cũng có ý kiến đồng ý ly hôn với chị H.
Từ đó cho thấy mối quan hệ hôn nhân giữa chị H với anh V đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn và mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị H yêu cầu được ly hôn với anh V là có cơ sở. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX chấp nhận cho chị H được ly hôn với anh V.
[3.2] Về quan hệ con chung: Chị H và anh V có hai người con chung tên Trần Gia H1, sinh ngày 25/5/2009; Trần Thị Kiều V1, sinh ngày 06/8/2014. Từ khi ly
3
thân đến nay hai con đang ở với chị H. Nên khi ly hôn, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
HĐXX xét thấy, từ khi chị H và anh V sống ly thân với nhau cho đến nay, thì chị H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai cháu Gia H1, Kiều V1 và hiện nay hai cháu vẫn phát triển bình thường. Đồng thời, anh V cũng có bản tự khai đồng ý giao hai con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, để đảm bảo ổn định cuộc sống và nhằm giúp hai cháu Gia H1, Kiều V1 phát triển tốt về mọi mặt, nên tiếp tục giao cho chị H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét.
[3.4] Về quan hệ tài sản chung: Chị H và anh V thống nhất tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không giải quyết.
Về nợ chung: Chị H và anh V trình bày thống nhất anh chị không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không giải quyết.
[4] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì chị H phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị H được ly hôn với anh Trần Quốc V.
4
2. Về quan hệ con chung: Giao hai cháu tên Trần Gia H1, sinh ngày 25/5/2009 và Trần Thị Kiều V1, sinh ngày 06/8/2014 cho chị Huỳnh Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về quyền thăm nom, chăm sóc con chung: Trong thời gian chị Huỳnh Thị H nuôi con; anh Trần Quốc V được quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.
3. Về quan hệ tài sản chung: Chị Huỳnh Thị H và anh Trần Quốc V thống nhất tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không giải quyết.
Về nợ chung: Chị Huỳnh Thị H và anh Trần Quốc V trình bày thống nhất anh chị không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc chị Huỳnh Thị H phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006987 ngày 31 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Chị H không phải nộp thêm.
5. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014./.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh An Giang;
- - VKSND Khu vực 4 - An Giang;
- - THADS tỉnh An Giang;
- - UBND xã Bình Sơn, tỉnh An Giang;
- - Các đương sự;
- - Lưu HSVA./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Lâm Nguyễn Thanh Huy
5
6
Bản án số 305/2025/HNGĐ-ST ngày 04/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - AN GIANG về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 305/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị H kiện Trần Quốc Việt
