Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẾN TRE
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 305/2025/DS-PT

Ngày: 25-6-2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng góp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Trang.

Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Phận;

Bà Lê Thị Thu Hương.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Phấn - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 136/2025/TLPT-DS ngày 06 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 21 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm 1741/2025/QĐXXPT-DS ngày 19 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số 1961/2025/QĐ-PT ngày 05 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:

    Bà Bùi Thị P, sinh năm 1972;

    Địa chỉ: 1, ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre.

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1994; Địa chỉ: 4, ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)

  2. Bị đơn:

    Bà Bùi Thị M, sinh năm 1951; (Có mặt)

    Địa chỉ: 1 ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Huỳnh Thanh S - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. (Có mặt)

  3. Người làm chứng (do bà M tự mời):

    1. Bà Bùi Thị L, sinh năm 1980; (Có mặt)

      Địa chỉ: 2, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre.

    2. Bà Bùi Thị H, sinh năm 1956; (Có mặt)

      Địa chỉ: 82/4, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre.

  4. Người kháng cáo: Bà Bùi Thị M, là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung bản án sơ thẩm;

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Bùi Thị Phương trình B:

Trước đây bà M làm chủ hụi, bà có tham gia 02 phần cụ thể:

- Dây hụi thứ nhất : Hụi khui ngày 05/9/2021 âm lịch, mỗi phần hụi 2.000.000 đồng, có 27 người tham gia, hụi khui hàng tháng. Dây hụi này bà tham gia 01 phần và đóng cho bà M 24 tháng. Đến tháng 07 năm 2023 âm lịch thì bà M không thu hụi nữa do bà M cho rằng bà hốt rồi. Lý do: vào tháng 02 năm 2023 âm lịch (tháng 02 sau do năm 2023 có nhuần hai tháng 02) bà có kêu để hốt hụi nhưng sau đó bà không hốt hụi mà nhường lại cho chị Phạm Thị Kiều E, địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T hốt, bà M đồng ý và đã giao tiền hụi cho chị Kiều E xong nên sau đó bà vẫn đóng hụi liên tục cho bà M đến 07 năm 2023 âm lịch thì bà M cho rằng bà kêu hốt hụi xong nên không thu hụi nữa và khi mãn hụi cũng không giao hụi cho bà. Như vậy, dây hụi này bà M còn nợ bà số tiền 48.000.000 đồng.

- Dây hụi thứ 2: Hụi khui ngày 20/01/2022 âm lịch, một phần hụi là 2.000.000 đồng, hụi khui và góp hàng tháng, dây hụi này có 27 phần, bà tham gia 02 phần. Vào tháng thứ 10 (bà nhớ khoảng 10 năm 2022) thì bà kêu 560.000 đồng, hốt 01 phần với số tiền 41.480.000 đồng, khi hốt hụi bà M có giao giấy hụi cho bà, sau khi hốt hụi xong bà góp hụi đầy đủ cho bà M tới mãn hụi. Phần còn lại bà đóng đến tháng 07 năm 2023 thì bà M không thu hụi nữa. Như vậy, phần hụi còn lại bà M chưa giao hụi cho bà là 40.000.000 đồng.

Tổng cộng, bà M nợ bà 02 phần hụi nêu trên là 88.000.000 đồng. Việc chơi hụi giữa các bên thì bà M chỉ có giao cho bà các giấy chơi hụi là bản phô tô có ghi “Hụi khui ngày 5 t 9 năm 2021”, “Hui khui ngày 20 t 1 năm 2022” số thứ tự của từng người chơi từ số 01- đến 27 ở góc trái, còn góc phải viết bằng mực xanh có ghi rõ số tiền khui hụi hàng tháng, tiền góp hụi hàng tháng là do bà ghi để theo dõi. Ngoài những giấy tờ mà bà vừa trình bày thì bà không còn giấy tờ nào khác.

Bà với bà M có chơi hụi nhiều lần với nhau, ngoài 02 dây hụi trên bà còn tham gia 04 phần hụi khác do bà M làm chủ nhưng tất cả các phần hụi bà với bà M đã tự thỏa thuận xong nên vào ngày 06/6/2024 bà M có giao cho bà số tiền 20.000.000 đồng. Còn 02 dây hụi trên không liên quan đến 04 dây hụi mà bà M trình bày.

Khi bà M bể hụi, bà có thưa bà M ra Công an xã T. Khi đó, bà M có hứa với bà sẽ giao tiền hụi 04 phần hụi khác cho bà nhưng bà M không thực hiện, 04 phần hụi đó không liên quan đến 02 dây hụi mà bà kiện mà M, do 04 phần hụi đó là hụi sống. Sau đó, cấn trừ qua lại 04 phần hụi đó thì bà M giao cho bà là 20.000.000 đồng là xong. Còn 02 phần hụi ngày 05/9/2021 âm lịch và hụi ngày 20/01/2022 âm lịch thì bà có ghi phía dưới là “còn phần hai đầu hụi tôi đang thưa chánh huyền thì khi nàu giải quyết sông sẽ tính”. Như vậy, 02 phần hụi mà bà đang kiện bà M không có liên quan đến số tiền 20.000.000 đồng mà bà nhận của bà M.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà P trình bày: Thời điểm đó, bà biết bà M bể hụi nên ngày 06/06/2024 sau khi bà M giao cho bà 20.000.000 đồng, thì bà có nói nếu bà M giao thêm cho bà 10.000.000 đồng thì bà sẽ rút đơn khởi kiện 02 phần hụi trên nhưng bà M không đồng ý, nếu bà M có trả cho bà thì bà vẫn khởi kiện do thỏa thuận cấn trừ giữa bà với bà M thì bà đã bị mất nhiều tiền hụi và lúc này bà M không còn khả năng thanh toán cho bà nên bà nói vậy nếu bà M trả bao nhiêu thì bà lấy bấy nhiêu. Bà cam kết ngoài 02 phần hụi mà bà khởi kiện bà M thì bà M không còn nợ bà tiền hụi nào khác.

Bà yêu cầu bà M phải có nghĩa vụ trả cho bà số tiền là 77.000.000 đồng, bà không yêu cầu trả lãi. Bà tự nguyện rút yêu cầu đối với số tiền là 11.000.000 đồng, việc này là do bà tự nguyện.

Tại biên bản tự khai ngày 28/10/2024 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn bà Bùi Thị M trình bày:

Trước đây, bà có làm chủ hụi, bà Bùi Thị P có tham gia chơi hụi với bà, gồm các dây hụi như lời trình bày của bà P. Tuy nhiên, 02 dây hụi ngày 05/9/2021 và ngày 20/01/2022 âm lịch thì bà P có kêu hốt hụi và bà đã giao xong cho bà P nên 02 dây hụi này bà không còn nợ bà P. Bà không nhớ là bà P kêu hụi hốt khi nào, số tiền giao bao nhiêu bà cũng không nhớ, do trước đây bà không có ghi chép để theo dõi nên bà không cung cấp được chứng cứ chứng minh.

Đối với 04 phần hụi sống mà bà P trình bày thì khi bể hụi bà với bà P có tính toán lại với nhau, sau khi cấn trừ qua lại 04 phần hụi đó thì bà có nghĩa vụ giao cho bà P 20.000.000 đồng và bà P đã nhận xong vào ngày 06/6/2024. Việc chơi hụi giữa bà với bà P cũng như các hụi viên khác thì từ trước đến nay bà chỉ lập danh sách ghi tên các hụi viên rồi ghi theo dõi hụi sống, hụi chết. Khi bà P kêu hốt hụi thì các hụi viên khác đều biết và bà đã giao tiền hụi đầy đủ cho bà P. Sau khi hốt hụi thì bà P góp hụi đầy đủ cho bà và các phần hụi đó đã mãn. Do việc chơi hụi diễn ra trong thời gian dài, bà với bà P tin tưởng và quen biết nên khi giao tiền hụi cho bà P thì bà không có làm giấy tờ gì nên không cung cấp được cho Tòa án.

Bà thừa nhận tại dây hụi ngày 05/9/2021, bà P có nhường cho chị Kiều E hốt như lời trình bày của bà P. Bà thừa nhận bà P có tham gia 02 phần hụi như đơn khởi kiện bà P trình bày nhưng bà đã giao hụi đầy đủ cho bà P, sau khi hốt hụi thì bà P góp hụi đầy đủ cho bà xong, bà không còn nợ bà P số tiền 88.000.000 đồng nên bà không đồng ý trả cho bà P số tiền 88.000.000 đồng. Còn 04 phần hụi sống mà bà P trình bày thì vào ngày 06/6/2024 bà với bà P đã cấn trừ xong bằng cách bà đã giao cho bà P số tiền 20.000.000 đồng. Do đó, bà không còn nợ bà P khoản tiền hụi nào.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà M trình bày: Bà tổ chức chơi hụi khoảng hơn 10 năm, khi khui hụi thì bà có ghi rõ tên từng người vào sổ theo dõi của bà rồi bà phô tô giao cho mỗi người một bản, nếu ai kêu hốt thì bà ghi vào là “chết”. Khi giao tiền hụi, có lúc bà có viết giấy ghi rõ số tiền mà họ hốt được rồi giao giấy và tiền cho họ, có lúc bà chỉ đưa tiền mà không có làm giấy tờ gì. Phần hụi ngày 05/9/2021, bà P kêu hốt hụi trước chị Kiều E khoảng vài tháng nhưng đến khi khui hụi thì bà P nhờ bà Lê Thị M1 đến khui hụi. Do quên nhớ nên bà cho bà P kêu hốt rồi bà P nhường lại cho chị Kiều E, bà cũng đồng ý. Bà P tiếp tục đóng hụi sống cho bà vài tháng nữa bà mới phát hiện nên đến ngày 06/6/2024 bà với bà P cộng tất cả các phần hụi sống, hụi chết của bà P cấn trừ qua lại bà giao cho bà P số tiền 20.000.000 đồng là xong. Lúc đó, bà P có nói nếu bà giao cho bà P 02 phần hụi mà bà P đang khởi kiện số tiền 10.000.000 đồng thì bà P sẽ rút đơn khởi kiện, do bà không còn nợ bà P khoản tiền hụi nào nữa nên bà không đồng ý trả. Khi bà P kêu hốt 02 phần hụi trên thì bà đã giao đầy đủ cho bà P, có nhiều người chứng kiến nhưng bà không nhớ là ai chứng kiến nên không cung cấp được cho Tòa án. Bà không có ý kiến gì đối với việc bà P rút yêu cầu đối với bà. Bà không đồng ý trả tiền hụi theo yêu cầu của bà P.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 21 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre đã tuyên:

Căn cứ vào Điều 26, điểm b, khoản 1 Điều 35, 39, 147, 217, 218, 219, 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị P về việc yêu cầu bà Bùi Thị M phải có nghĩa vụ trả cho bà 11.000.000 đồng.

  2. Chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị P. Buộc bà Bùi Thị M phải có nghĩa vụ giao trả cho bà Bùi Thị P số tiền là 77.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, tiền lãi chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 10/3/2025, bà Bùi Thị M có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị P yêu cầu bà M trả số tiền 77.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn bà Bùi Thị M trình bày: Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P về việc yêu cầu bà trả số tiền 77.000.000 đồng.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà M là ông Huỳnh Thanh S trình bày: Hụi của bà M không thực hiện đúng quy định của Điều 471 Bộ luật Dân sự, Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường, hụi không có lập sổ sách, không đăng ký hụi, việc giao tiền hụi không thực hiện đúng quy định. Tuy nhiên, ngày 06/6/2024, bà M đã thanh toán hoàn tất 04 dây hụi cho bà P. Đối với 02 dây hụi khui ngày 05/9/2021 âm lịch, dây hụi khui ngày 20/01/2022 âm lịch thì bà P đã hốt hụi và bà M đã giao hụi xong, các hụi viên đều biết việc bà P hốt hụi. Do đó, bà P khởi kiện yêu cầu bà M trả số tiền hụi 77.000.000 đồng của 02 dây hụi khui ngày 05/9/2021 âm lịch, dây hụi khui ngày 20/01/2022 âm lịch là không có căn cứ. Căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự, Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P. Bà M thuộc hộ nghèo nên thuộc diện được miễn án phí.

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Đ trình bày: Nguyên đơn không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bà Bùi Thị H trình bày: Chồng bà là ông S1 tham gia dây hụi khui ngày 05/9/2021 âm lịch của bà M cùng với bà P, nhưng bà là người tham gia khui hụi do ông S1 bận đi làm. Bà biết việc bà P đã hốt hụi vào ngày 25, giao ngày 05 (không nhớ tháng). Tuy nhiên, bà không thấy việc giao nhận tiền hụi giữa bà M với bà P. Bà nghĩ đã hốt hụi thì đương nhiên bà M phải giao tiền hụi nên bà ký văn bản xác nhận cho bà M. Bà M làm văn bản xác nhận đưa cho bà ký chứ bà không biết chữ. Lời trình bày của bà tại phiên toà là đúng.

Bà Bùi Thị L trình bày: Bà L tham gia dây hụi khui ngày 20/01/2022 âm lịch của bà M cùng với bà P. Bà L biết bà P hốt hụi vào tháng 5 năm 2022, tuy nhiên việc khui hụi xem ai hốt hụi thì bà L biết chứ bà không biết việc giao nhận tiền hụi giữa bà M và bà P. Văn bản xác nhận do bà M làm rồi đưa cho bà L ký, bà đọc chữ không tốt nên cũng không rõ nội dung. Lời trình bày của bà tại phiên toà là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • - Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định của pháp luật tố tụng.

  • - Về nội dung: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Bùi Thị M; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét kháng cáo của bị đơn bà Bùi Thị M, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Bị đơn Bùi Thị M kháng cáo, thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ và trong thời hạn luật định nên yêu cầu kháng cáo được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Bà P khởi kiện yêu cầu bà M trả số tiền nợ hụi là 88.000.000 đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà P rút yêu cầu 11.000.000 đồng, chỉ yêu cầu bà M trả 77.000.000 đồng.

Xét kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1] Trong quá trình giải quyết vụ án, bà P và bà M thống nhất 02 dây hụi bà P tham gia do bà M làm chủ hụi gồm: Dây hụi thứ nhất: Hụi khui ngày 05/9/2021 âm lịch, mỗi phần hụi là 2.000.000 đồng, có 27 người tham gia, hụi khui hàng tháng, bà P tham gia 01 phần. Dây hụi thứ 2: Hụi khui ngày 20/01/2022 âm lịch, một phần hụi là 2.000.000 đồng, hụi khui và góp hàng tháng, dây hụi này có 27 phần, bà P tham gia 02 phần. Đây là tình tiết không phải chứng minh quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2.2] Đối với yêu cầu khởi kiện, bà M xác định bà P có đóng hụi đầy đủ nhưng bà cho rằng bà P đã hốt hụi xong và bà đã giao đủ số tiền hốt hụi cho bà P nên bà không đồng ý trả nợ theo yêu cầu của bà P, tuy nhiên, bà không nhớ bà P đã hốt hụi khi nào, số tiền hốt hụi là bao nhiêu và không có làm giấy tờ giao hụi. Bà M chỉ trình bày mà không có tài liệu, chứng cứ chứng minh việc đã giao hụi cho bà P. Lời khai của những người làm chứng tại phiên tòa sơ thẩm đều xác định không rõ việc giao nhận hụi giữa bà M và bà P.

Tại giai đoạn phúc thẩm, bà M cung cấp chứng cứ mới là văn bản xác nhận của bà Bùi Thị L và bà Bùi Thị H cùng là hụi viên trong dây hụi với bà P do bà M làm chủ có nội dung xác nhận giữa bà P và bà M đã hoàn tất việc thanh toán các dây hụi. Tuy nhiên, xác nhận của bà L và bà H chỉ là lời trình bày mà không có căn cứ chứng minh cho lời trình bày là đúng. Tại phiên toà, bà L và bà H cùng thừa nhận không có chứng kiến việc giao nhận tiền hụi giữa bà M và bà P, các văn bản xác nhận do bà M đưa cho ký chứ các bà cũng không đọc rõ nội dung văn bản, do đó bà L, bà H xác nhận lời trình bày của các bà tại phiên toà là đúng. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của những người làm chứng trong vụ án chưa đủ cơ sở xác định bà M đã giao tiền hụi cho bà P xong.

[2.3] Đối với dây hụi ngày 05/9/2021 âm lịch, bà P xác định chưa hốt hụi do vào tháng 02/2023 âm lịch (tháng 02 sau do năm 2023 nhuần tháng 02) mặc dù bà có kêu hốt hụi nhưng sau đó bà nhường lại cho chị Phạm Thị Kiều E hốt, bà M đồng ý nên bà không có hốt hụi. Bà M thừa nhận việc bà P nhường cho chị Kiều E hốt hụi trước vào tháng 02/2023 âm lịch. Đối chiếu với danh sách 27 hụi viên trong dây hụi ngày 05/9/2021 âm lịch và sự thừa nhận của các bên đương sự xác định được chị Phạm Thị Kiều E có tên trong danh sách hụi viên tham gia dây hụi với tên được ghi trong danh sách là “Vợ P1”. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định bà P chưa hốt hụi vào tháng 02/2023 âm lịch do đã nhường cho chị Kiều E hốt hụi trước. Sau đó, bà M thừa nhận bà P có đóng hụi tiếp tục nhưng không chứng minh được bà P đã hốt hụi.

[2.4] Đối với giấy nhận tiền hụi ngày 06/6/2024 số tiền 20.000.000 đồng do bà P cung cấp trong hồ sơ vụ án, các bên đương sự thống nhất xác định đây là số tiền hụi của 04 dây hụi khác. Mặc dù nội dung giấy nhận tiền hụi có ghi “tính tất cả những phần hụi còn lại giữa tôi và M” nhưng đồng thời cũng có ghi nội dung “còn phần hai đầu hụi tôi đang thưa chánh quyền thì khi nàu giải quyết sông sẽ tính” nên Hội đồng xét xử có cơ sở xác định giấy nhận tiền hụi ngày 06/6/2024 số tiền 20.000.000 đồng không phải là tiền hụi của 02 dây hụi ngày 05/9/2021 và ngày 20/01/2022 âm lịch.

[2.5] Bà M là chủ hụi, không chứng minh được việc giao tiền hụi của 02 dây hụi ngày 05/9/2021 và ngày 20/01/2022 âm lịch với bà P nên Hội đồng xét xử có cơ sở xác định bà M còn nợ tiền hụi của bà P. Về số tiền nợ hụi, Hội đồng xét xử xét thấy:

Đối với dây hụi khui ngày 05/9/2021 âm lịch: Bà P xác định bà M còn nợ số tiền hụi là 48.000.000 đồng. Bà P trình bày đóng hụi sống được 24 tháng, đến tháng 7/2023 thì bà M không góp hụi nữa. Bà P chưa hốt hụi, mỗi phần hụi 2.000.000 đồng và đây là hụi có lãi nên có căn cứ xác định số tiền nợ của dây hụi khui ngày 05/9/2021 là 48.000.000 đồng, đã bao gồm lãi.

Đối với dây hụi khui ngày 20/01/2022 âm lịch: Bà P xác định bà M còn nợ số tiền hụi là 40.000.000 đồng. Bà P trình bày bà tham gia 02 phần hụi trong dây hụi này, bà đã đóng hụi sống mỗi phần hụi được 20 tháng, đến tháng 7/2023 thì bà M không góp hụi nữa. Bà P đã hốt hụi 01 phần, còn lại 01 phần hụi sống chưa hốt, mỗi phần hụi 2.000.000 đồng và đây là hụi có lãi nên có căn cứ xác định số tiền nợ của dây hụi khui ngày 20/01/2022 là 40.000.000 đồng, đã bao gồm lãi.

Tổng số tiền nợ hụi là 88.000.000 đồng. Tại tòa sơ thẩm, bà P rút yêu cầu khởi kiện đối với số tiền nợ 11.000.000 đồng (do bà P đồng ý giảm số tiền nợ này cho bà M) là sự tự nguyện của bà M nên Tòa án sơ thẩm ghi nhận là phù hợp. Như vậy, tổng số tiền nợ hụi còn lại bà P yêu cầu là 77.000.000 đồng. Việc bà M làm chủ hụi nhưng chưa giao hụi là không thực hiện đúng quy định tại Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường nên yêu cầu khởi kiện của bà P về việc yêu cầu bà M trả cho bà P số tiền hụi 77.000.000 đồng là có cơ sở nên Tòa sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P là phù hợp.

[3] Từ những nhận định trên, xét kháng cáo của bị đơn Bùi Thị M là không có cơ sở, đương sự không cung cấp được chứng cứ chứng minh yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

[4] Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Do yêu cầu kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, bà M là người cao tuổi và thuộc hộ nghèo, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Bùi Thị M.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 21 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

Căn cứ vào các điều 147, 148, 217, 218, 219, 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP, ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị P.

    Buộc bà Bùi Thị M phải có nghĩa vụ trả cho bà Bùi Thị P số tiền nợ hụi là 77.000.000 (bảy mươi bảy triệu) đồng.

    Ghi nhận bà Bùi Thị P không yêu cầu tính lãi đối với số tiền trên.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị P đối với số tiền 11.000.000 (mười một triệu) đồng.

  3. Án phí dân sự sơ thẩm:

    Hoàn trả cho bà Bùi Thị P số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.200.000 (hai triệu hai trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0003544 ngày 08/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

    Bà Bùi Thị M được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm.

  4. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Bùi Thị M được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - TAND huyện Thạnh Phú;
  • - CCTHADS huyện Thạnh Phú;
  • - Phòng Thanh tra, Kiểm tra và
  • Thi hành án TAND tỉnh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Phạm Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 305/2025/DS-PT ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 305/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hụi
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger