|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 305/2025/DS-PT Ngày: 18/06/2025 “V/v T/c đòi nợ theo HĐ Về việc hổ trợ chi phí bồi hoàn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Bình, Bà Hà Thị Phương Thanh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huyền là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18/6/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 88/TLPT-DS ngày 03 tháng 4 năm 2025 về việc: “Tranh chấp đòi nợ theo hợp đồng về việc hỗ trợ chi phí bồi hoàn”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 20/01/2025 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều có kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 260/2025/QĐ-PT ngày 16 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty cổ phần P.
Địa chỉ: Số C H, khu dân cư H, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quang S – Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lâm Thanh T, sinh năm 1969. (có mặt)
Nơi cư trú: Số B H, Khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (Giấy ủy quyền ngày 11/4/2025).
Bị đơn: Công ty cổ phần M1.
Địa chỉ: Số A L, phường A (nay là phường T), quận N, thành phố Cần Thơ.
Đại diện theo pháp luật: Ông Vương Tấn M – Giám đốc. Có mặt
Địa chỉ: Số A L, phường A (nay là phường T), quận N, thành phố Cần Thơ.
Người kháng cáo: bị đơn Công ty Cổ phần M1.
NỘI DUNG VỤ KIỆN
Nguyên đơn Công ty cổ phần P : Căn cứ Hợp đồng số 343/HĐ-KDN ngày 28/4/2010, Công ty cổ phần P đã thực hiện đúng theo Điều 3 của Hợp đồng (V/v hỗ trợ chi phí bồi hoàn). Theo đó, Công ty M1 phải thanh toán cho Công ty phát triển nhà số tiền 7.567.200.000 đồng. Tuy nhiên, đến nay Công ty M1 chỉ thanh toán số tiền 5.513.000.000 đồng, số tiền còn lại chưa thanh toán là 2.054.200.000 đồng.
Nay Công ty phát triển nhà khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, buộc Công ty cổ phần M1 thanh toán số tiền còn lại là 2.054.200.000 đồng và tiền lãi chậm trả tính từ ngày 25/02/2014 cho đến ngày 15/7/2024 với lãi suất 10%/năm.
Bị đơn công ty Cổ phần M1 trình bày:
Thứ 1: Công ty cổ phần M1 không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần P.
Thứ 2: Trong Công văn số 549/CV/CTY của Công ty cổ phần P, ông Nguyễn Văn G – Phó Giám đốc đã xác nhận số tiền Công ty cổ phần M1 ứng trước đã sử dụng vào công tác giải phóng mặt bằng, hỗ trợ di dời cho các hộ dân và các chi phí liên quan nhưng quý cơ quan và ban ngành cho rằng số tiền này không phải là ứng trước mà là thỏa thuận hỗ trợ chi phí bồi hoàn theo Hợp đồng số 343/KDN ngày 28/4/2010. Vậy, Công ty M1 hiểu là số tiền này được Công ty cổ phần M1 cho, tặng, ủng hộ Công ty cổ phần P nhưng có hợp đồng hay sao.
Thứ 3: Trong Hợp đồng số 343/KDN ngày 28/4/2010, không có ghi bất kỳ điều khoản nào quy định khi Công ty cổ phần M1 không tiếp tục trả tiền thêm thì sẽ bị tính lãi (trong đơn khởi kiện của Công ty cổ phần P lại tính lãi suất). Công ty cổ phần M1 không có mua đất, Công ty cổ phần M1 cũng không vay mượn tiền gì của Công ty cổ phần P, nên nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất là hoàn toàn không có căn cứ.
Thứ 4: Trong Quyết định số 286/QĐ-UBND ngày 30/01/2011, của UBND thành phố C không có điều khoản nào buộc Công ty cổ phần M1 phải đóng tiền cho Công ty cổ phần P. Như vậy, Công ty cổ phần M1 mặc dù làm về lĩnh vực được xã hội hóa (về giáo dục) lại phải đóng hai lần tiền cho thửa đất mà UBND thành phố C giao cho Công ty cổ phần M1 xây dựng Trường tiểu học N và Mầm non Ngôi sao 2.
Cụ thể: Lần 1: Đóng cho Công ty cổ phần P. Lần 2: Đóng tiền thuế đất cho Cục thuế thành phố C.
Thứ 5: Công ty cổ phần M1 làm xã hội hóa về giáo dục gần 15 năm nay và hiện thiếu nợ Quỹ đầu tư thành phố Cần Thơ với tổng số tiền lên đến 105.207.501.257 đồng. Do đó, Công ty M1 có gửi đến Ban lãnh đạo Công ty cổ phần P xem xét tính nhân văn để Công ty cổ phần M1 không phải trả tiền tiếp tục, vì đã ủng hộ, cho tặng số tiền 5.513.000.000 đồng. Như Công văn 342/CV có ý kiến nêu rằng: “Trường hợp Công ty cổ phần M1 không có khả năng thanh toán hay lý do nào khác, đề nghị có văn bản gửi cho Công ty CP P để làm cơ sở trình U xem xét".
Trong thời gian đó, Ban Giám đốc Công ty cổ phần P cũng được biết Công ty cổ phần M1 làm xã hội hóa về giáo dục đã lỗ nhiều năm và nợ Quỹ đầu tư thành phố Cần Thơ rất nhiều không có khả năng cho tiếp và ủng hộ tiếp theo như hợp đồng đã ký (Hợp đồng số 343/KDN), nên đề nghị và xin ý kiến UBND thành phố C để không nhận tiếp số tiền như trong Hợp đồng số 343/KDN đã ký. Do hòa giải không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử.
Tại Bản án số 17/2025/DS-ST ngày 20/02/2025 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc Công ty cổ phần M1 phải thanh toán cho Công ty cổ phần P tổng số tiền 4.317.284.750 đồng (Gốc: 2.054.200.000 đồng, lãi 2.263.084.750 đồng). Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án mà bị đơn chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí xem xét thẩm định, tiền án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã tuyên xử. Bị đơn Công ty cổ phần M1 đã kháng cáo bản án trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Vương Tấn M– đại diện theo pháp luật của Công ty cổ phần M1 trình bày: Từ năm 2016 đến nay công ty Cổ phần P không yêu cầu gì đối với số tiền này. Về quan hệ pháp luật thì đây là tranh chấp đòi nợ theo hợp đồng về việc hỗ trợ chi phí bồi hoàn. Số tiền còn nợ chưa thanh toán là tiền hợp đồng. Thời hiệu giải quyết tranh chấp hợp đồng đã hết. Đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ông Lâm Thanh T đại diện Công ty cổ phần P trình bày: Bị đơn không yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét là phù hợp. Bị đơn thừa nhận số tiền đã thanh toán là 5.513.000.000 đồng và còn nợ lại số tiền 2.054.200.000 đồng chưa thanh toán. Hợp đồng này đã thanh lý nguyên đơn đã xuất hóa đơn từ năm 2012. Việc chậm thực hiện nên phải trả vốn và lãi là phù hợp. Bản án sơ thẩm tuyên là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Bị đơn thừa nhận số tiền nợ còn lại theo hợp đồng là 2.054.200.000 đồng nên buộc bị đơn phải có nghĩa vụ trả là phù hợp.
Về tiền lãi bản án sơ thẩm tuyên là chưa phù hợp. Bởi vì, ngày 12/8/2016 là ngày bị đơn xác nhận số nợ và không liệt kê phần tiền lãi, nguyên đơn không phản hồi xem như nguyên đơn đồng ý số nợ gốc. Do đó, tiền lãi được tính từ ngày 12/6/2016 cho đến ngày xét xử phúc thẩm.
Từ ngày 12/6/2016 đến ngày 01/7/2017 áp dụng lãi suất là 75%/1 tháng.
Từ ngày 01/7/2017 đến nay áp dụng lãi suất 0.83%/tháng.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2, Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Sửa một phần bản án sơ thẩm về lãi suất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: “Tranh chấp đòi nợ theo hợp đồng hỗ trợ chi phí bồi hoàn” Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định nên được xem xét. Việc ủy quyền là hợp lệ đúng quy định.
[2] Xét nội dung vụ kiện nhận thấy: Công ty Phát triển và Kinh doanh nhà thành phố P (nay là Công ty cổ phần P (Bên A) với Công ty cổ phần M1 (Bên B) ký kết Hợp đồng số 343/HĐ.KDN ngày 28/4/2010 (V/v thỏa thuận hỗ trợ chi phí bồi hoàn).
Theo nội dung hợp đồng thì Bên A giao cho Bên B phần đất diện tích 8.408 m² (tọa lạc khu dân cư H, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ) để xây dựng Trường Tiểu học và Mầm non chất lượng cao. Bên B sẽ bồi hoàn chi phí cho Bên A với giá 900.000 đồng/m², tức là Công ty M1 phải chi trả cho Công ty phát triển nhà số tiền 7.567.200.000 đồng (8.408 m² x 900.000 đồng/m²).
Xét quá trình thực hiện hợp đồng: Bên A đã thực hiện đúng theo thỏa thuận tại Điều 3 của Hợp đồng, đã hoàn thành cơ sở hạ tầng và bàn giao đất đúng vị trí, đúng diện tích cho Bên B; Bên B đã nhận Quyết định bàn giao đất của UBND thành phố C (Quyết định số 286/QĐ-UBND ngày 30/01/2011).
Ngày 10/12/2012, Bên A đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng cho Bên B với số tiền 7.567.200.000 đồng. Ngày 25/02/2014, Bên A xác nhận Bên B thanh toán được số tiền 5.513.000.000 đồng và còn nợ lại 2.054.200.000 đồng nhưng Bên B không thanh toán. Vì vậy, Công ty cổ phần P khởi kiện yêu cầu Công ty Cổ phần M1 phải trả số tiền còn lại và tiền lãi. Phía bị đơn công ty Cổ phần M1 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cho rằng hết thời hiệu đòi nợ theo hợp đồng nên không đồng ý trả.
Qua xem xét Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Căn cứ theo Biên bản xác nhận ngày 12/8/2016, Bên B xác nhận còn nợ Bên A số tiền 2.054.200.000 đồng. Tuy nhiên, Bên B không thực hiện nghĩa vụ trả nợ số tiền còn lại cho Bên A là vi phạm cam kết tại Điều 2 của Hợp đồng (Quy định về giá trị hợp đồng và phương thức thanh toán). Mặc dù vậy, trước đây, Công ty M1 còn khởi kiện buộc Công ty P trả lại số tiền 5.513.000.000 đồng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 71/2022/DSST ngày 20/5/2022 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần M1; Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 445/2023/DS-PT ngày 29/9/2023, Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ đã tuyên sửa bản án sơ thẩm, tuyên buộc Công ty cổ phần P phải trả lại Công ty cổ phần M1 số tiền 4.183.398.000 đồng.
Tuy nhiên, tại Quyết định giám đốc thẩm số 90/2024/DS-GĐT ngày 23/4/2024, Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh, tuyên hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 445/2023/DS-PT ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ và giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 71/2022/DSST ngày 20/5/2022 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.
Như vậy, theo Quyết định giám đốc thẩm thì Công ty cổ phần M1 đã vi phạm hợp đồng, không thanh toán đủ số tiền còn lại cho Công ty P là trái với thỏa thuận giữa hai bên. Do đó cần buộc bị đơn phải trả số tiền trên như bản án sơ thẩm tuyên là phù hợp.
Xét yêu cầu của bị đơn. Bị đơn cho rằng thời hiệu khởi kiện đã hết nên đề nghị áp dụng thời hiệu: Qua xem xét yêu cầu này, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Yêu cầu này là không có căn cứ vì: Hai bên không phải tranh chấp hợp đồng mà hợp đồng đã thực hiện xong và chuyển qua thanh lý, trả nợ hợp đồng. Phía bị đơn thừa nhận số nợ trên nên bị đơn phải có nghĩa vụ trả là phù hợp. Hơn nữa, tại phiên tòa sơ thẩm và trong lần hòa giải, công khai chứng cứ bị đơn cũng không yêu cầu xem xét về thời hiệu nên Tòa án cấp sơ thẩm không đặt ra xem xét là phù hợp.
Xét về số tiền lãi: Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “ Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả”.
Xét về tiền lãi: Công ty cổ phần M1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên phải có trách nhiệm trả cho Công ty P số tiền 2.054.200.000 đồng và tiền lãi. Việc chậm thanh toán của bị đơn ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Do đó, bị đơn phải trả vốn và lãi cho nguyên đơn.
Về lãi suất: Ngày 12/8/2016 thì phía bị đơn xác nhận số nợ trên và không liệt kê phần lãi nhưng phía nguyên đơn không có phản hồi về tiền lãi. Do đó, xem như nguyên đơn chấp nhận số tiền gốc là 2.054.200.000 đồng. Vì vậy, thời gian tính lãi kể từ ngày 12/8/2016 trở về sau là phù hợp. Bản án sơ thẩm tính từ từ ngày 25/02/2014 là chưa phù hợp nên điều chỉnh lại phần lãi suất. Cụ thể số tiền như sau:
- - Tính từ ngày 12/8/2016 đến 01/01/2017 mức lãi suất là 0,75%/tháng (Tiền lãi là: 04 tháng 20 ngày là 71.897.000 đồng)
- - Tính từ 01/01/2017 đến nay lãi suất 0,83% tháng (Tiền lãi là 08 năm 05 tháng 17 ngày là 1.738.652.00 đồng.)
Vậy số tiền Công ty cổ phần M1 phải trả cho Công ty cổ phần P vốn và lãi là 3.864.749.000 đồng (làm tròn) .
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn nhận thấy: Bị đơn cho rằng: Công ty cổ phần M1 làm công tác xã hội hóa về giáo dục và còn nợ Q đầu tư thành phố Cần Thơ số tiền lên đến 105.207.501.257 đồng. Công ty cổ phần M1 “không có khả năng cho tiếp và ủng hộ tiếp theo như Hợp đồng số 343/KDN đã ký kết” là chưa phù hợp. Vì căn cứ theo Hợp đồng số 343/KDN là dựa trên sự tự nguyện của hai bên. Công ty cổ phần M1 đã vị phạm thỏa thuận theo hợp đồng nên buộc phải trả nợ và lãi, yêu cầu kháng cáo là không có cơ sở. Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn đề nghị xem xét về thời hiệu là không có cơ sở và không được chấp nhận như đã nhận định ở trên.
[4] Về tiền án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải nộp án phí là 109.294.980 đồng. Nguyên đơn được nhận lại 56.192.000 đồng theo Biên lai thu số 0001828 ngày 27/8/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
[5] Về tiền án phí phúc thẩm: Công ty cổ phần M1 phải chịu là 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005622 ngày 22/01/2025 thành tiền án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Bị đơn Công ty cổ phần M1 đã nộp đủ tiền.
[6] Xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 93, Điều 95, Khoản 2, Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 1, Điều 2, Điều 3, Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điểu 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty Cổ phần M1. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc Công ty cổ phần M1 phải thanh toán cho Công ty cổ phần P tổng số tiền 3.864.749.000 đồng. (Gốc: 2.054.200.000 đồng, lãi 1.810.549.000 đồng.
Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án mà bị đơn chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 109.294.980 đồng. Nguyên đơn được nhận lại 56.192.000 đồng theo Biên lai thu số 0001828 ngày 27/8/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Công ty cổ phần M1 được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005622 ngày 22/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hải |
Bản án số 305/2025/DS-PT ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp đòi nợ theo hợp đồng hỗ trợ chi phí bồi hoàn
- Số bản án: 305/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi nợ theo hợp đồng hỗ trợ chi phí bồi hoàn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đòi nợ theo hợp đồng
