|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 305/2024/HSST Ngày: 24/10/2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hùng Vương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Vân.
- Ông Võ Văn Dương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh:
Ông Nguyễn Viết Hiệp – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 271/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 282/2024/QĐST-HS ngày 04/10/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị T; Tên gọi khác: không có.
Giới tính: Nữ; Sinh năm: 1976; tại tỉnh Tây Ninh.
Nơi ĐKHKTT: khu phố E, phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.
Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: không.
Cha: Nguyễn Văn T1 (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm: 1949.
Chồng: Mai Ngọc T2, sinh năm: 1968.
Con: Mai Chí K, sinh năm 1994; Mai Thị Kim L, sinh năm 1999.
Tiền án:
- Ngày 18/7/2011, bị Tòa án nhân dân thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành án tại trại giam C chấp hành xong ngày 25/4/2012.
- Ngày 24/10/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành án tại trại giam T3 chấp hành xong ngày 31/01/2015.
- Ngày 22/2/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành tại trại giam T3 đến ngày 26/4/2019 về địa phương.
- Ngày 11/5/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành án tại Trại giam T4, đến ngày 28/1/2023 về địa phương.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 19/8/2009, bị Công an thị xã T, tỉnh Tây Ninh xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Ngày 18/3/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo. Chấp hành xong bản án ngày 20/9/2010.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/6/2024.
Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Ông Biện Bá P, sinh năm: 1982; (vắng mặt)
Địa chỉ: số A đường H, ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 18/6/2024, Nguyễn Thị T điều khiển xe gắn máy biển số 70B1-848.73 đi từ Tỉnh Tây Ninh đến Bệnh viện Đ1 để trộm cắp tài sản. Đến nơi, T gửi xe gắn máy biển số 70B1-848.73 tại khu vực để xe của Bệnh viện. Đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 19/6/2024, T đi đến khu vực hành lang lầu 1 của khoa nội tổng quát Bệnh viện Đ1 thì phát hiện ông Biện Bá P đang ngủ say có để 01 điện thoại di động hiệu Samsung A52 và 01 điện thoại di động hiệu Redmi 12 bên hông phải của ông P. Lúc này, T liền lén lút lấy trộm 02 điện thoại trên của ông P rồi bỏ vào túi nylong màu đen T mang theo bên người. Trên đường T đi xuống nhà xe, khi đến khu vực cấp cứu của Bệnh viện thì bị bảo vệ Bệnh viện phát hiện nghi vấn nên mời vào kiểm tra, phát hiện 02 điện thoại di động của ông P. Bảo vệ Bệnh viện đã thông báo cho ông P rồi trình báo Công an xã T, huyện C lập hồ sơ xử lý.
Kết quả định giá tài sản số 85 ngày 25/6/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 01 điện thoại di động hiệu samsung A52 màu đen trị giá 4.000.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Redmi12 màu đen trị giá 2.200.000 đồng. Tổng trị giá là 6.200.000 đồng.
Vật chứng vụ án:
- 01 điện thoại di động hiệu samsung A52 màu đen và 01 điện thoại di động hiệu Redmi12 màu đen.
- 01 xe gắn máy biển số 70B1-848.73.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone X.
Vật chứng còn lại hiện đang bảo quản tại kho vật chứng thuộc Đội Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Công an huyện C (bút lục:122).
Tại phiên tòa, Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Bị cáo trình bày: Điện thoại là vật kỷ niệm con của bị cáo tặng cho bị cáo mong Hội đồng xét xử cho bị cáo nhận lại.
Tại bản cáo trạng số 255/CT-VKSCC ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử Nguyễn Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội:
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ có tại hồ sơ.
Vào lúc 02 giờ 30 phút ngày 19 tháng 06 năm 2024 tại khu vực hành lang Khoa nội tổng quát Bệnh Viện Đ1 thuộc ấp B, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Thị T đã lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu samsung A52 màu đen trị giá 4.000.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Redmi12 màu đen trị giá 2.200.000 đồng. Tổng trị giá là 6.200.000 đồng. Nguyễn Thị T phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thị T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g Khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tiền án: có 04 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”; Tiền sự: không; Nhân thân: xấu. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g Khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 03 năm tù đến 04 năm tù.
Về xử lý vật chứng:
- 01 điện thoại di động hiệu samsung A52 màu đen và 01 điện thoại di động hiệu Redmi12 màu đen, đã trả lại cho ông Biện Bá P.
- 01 xe gắn máy biển số 70B1-848.73, đã trả cho chủ sở hữu.
- Hoàn trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Iphone X.
Bị cáo không tranh luận, không trình bày gì thêm.
Lời nói sau cùng:
Bị cáo trình bày: Mong Hội đồng xét xử khoan hồng, để bị cáo về nhà sớm nuôi mẹ già.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ, cụ thể:
Vào lúc 02 giờ 30 phút ngày 19 tháng 06 năm 2024 tại khu vực hành lang Khoa nội tổng quát Bệnh Viện Đ1 thuộc ấp B, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Thị T đã lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu samsung A52 màu đen trị giá 4.000.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Redmi12 màu đen trị giá 2.200.000 đồng; Kết quả định giá tài sản số 85 ngày 25/6/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 01 điện thoại di động hiệu samsung A52 màu đen trị giá 4.000.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Redmi12 màu đen trị giá 2.200.000 đồng, Tổng trị giá là 6.200.000 đồng; Bị cáo có 04 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Thị T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi lén lút nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo đã bất chấp pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người tốt đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.
Bị cáo là người thành niên, nhận thức rõ hành vi của mình là sai, bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hiện; Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tiền án: có 04 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”; Tiền sự: không; Nhân thân: xấu. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) để quyết định mức hình phạt cho bị cáo là có cơ sở.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Biện Bá P đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì đối với bị cáo. Trong quá trình điều tra, truy tố ông P không có yêu cầu gì đối với bị cáo; Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ và thông báo cho ông P biết về thời gian, địa điểm mở phiên Tòa xét xử đối với bị cáo T nhưng ông P vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt của ông P không ảnh hưởng gì đến nội dung vụ án nên vẫn tiến hành xét xử đối với bị cáo T. Sau này nếu ông P có yêu cầu gì khác đối với bị cáo T thì sẽ giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác.
Về vật chứng:
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu samsung A52 màu đen và 01 điện thoại di động hiệu Redmi12 màu đen là tài sản của ông Biện Bá P, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý bằng hình thức trả lại cho ông P là chủ sở hữu. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với 01 xe gắn máy biển số 70B1-848.73, chủ sở hữu xe là bà Nguyễn Thị Đ, bà Đ không biết bị cáo sử dụng xe này làm phương tiện để phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị Đ, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên không xét.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone X, màu hồng là tài sản của bị cáo Nguyễn Thị T, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử hoàn trả lại cho bị cáo T là phù hợp.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên bản cáo trạng số 255/CT-VKSCC ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo T theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xét thấy có cơ sở nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thượng vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 04 (B) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2024.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Hoàn trả cho bị cáo Nguyễn Thị T 01 điện thoại di động hiệu Iphone X, màu hồng, có số imei: 357297098785927 (đã qua sử dụng)
Các vật chứng, tài sản nêu trên được liệt kê tại phiếu nhập kho vật chứng số: 232/PNK ngày 09/9/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Bút lục số 123)
- Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016:
Án phí HS-ST: Bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thị T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Ông P vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Hùng Vương |
Bản án số 305/2024/HSST ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 305/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T phạm tội trộm cắp tài sản
