|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 305/2024/HS-ST Ngày 28-11-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hồng Phương
- Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Vũ Văn Khang
- Bà Lý Thị Thiên Nga
- - Thư ký phiên toà: Ông Phạm Đức Huy - Thư ký Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hùng Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 270/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 729/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 767/2024/QĐST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Phạm Thị Bích N, sinh ngày 14 tháng 5 năm 1966 tại Hải Phòng; nơi thường trú: Số B L, phường P, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số A T, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Mạnh H và bà Nguyễn Thị N1; có chồng là ông Đồng Mạnh H1 (đã ly hôn) và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 134/2005/HSPT ngày 02/12/2005 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng (sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2005/STHS ngày 14/4/2005 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên) xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Cố ý gây thương tích, thời gian thử thách 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (đã được xóa án tích); tạm giữ từ ngày 19/5/2024, đến ngày 28/5/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
2. Vũ Thị H2, sinh ngày 18 tháng 8 năm 1968 tại Hải Phòng; nơi thường trú: Thôn T, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 05/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T và bà Trần Thị T1; có chồng là ông Nguyễn Quang V và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 19/5/2024, đến ngày 28/5/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 19/5/2024, tại trước cửa nhà số C L, N, Hải Phòng, tổ Công tác đội Cảnh sát hình sự Công an quận N phát hiện đối tượng Trương Văn Q (sinh năm: 1997, nơi cư trú: thôn C, Đ, A, Hải Phòng) có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật, tiến hành kiểm tra hành chính đối với Q phát hiện trong người Quyết có 02 tích kê ghi số đề, một tích kê ghi 04 số bao mỗi số 250.000 đồng, một tích kê ghi 01 cặp số xiên 200.000 đồng. Tổ công tác Công an quận N đã đưa Q về trụ sở Công an quận N để làm rõ hành vi đánh bạc.
Tại Cơ quan điều tra, Q khai: Khoảng 16 giờ ngày 19/5/2024, Q ngồi uống nước tại đầu ngã 6 M, N, Hải Phòng thì có ý định đánh đề. Do trước đây Q từng mua số đề của Nguyễn Thị Ánh T2 (sinh năm: 1984, trú tại: thôn L, xã N, A, Hải Phòng) tại khu vực ngã 3 Q, N, A, Hải Phòng nên Q đã gọi một người giao hàng (shipper, không rõ lai lịch) và bảo người này đến địa chỉ T2 bán đề đánh cho Q 04 số bao mỗi số 250.000 đồng. Q hẹn người shipper đến ghi vé số đề xong cầm ticke về đưa lại cho Q thì Q trả tiền đánh đề và tiền công. Khoảng 1 tiếng sau, shipper cầm ticke ghi số đề có chữ kí chị T2 về đưa cho Q, Q trả tiền số đề cho shipper 1.000.000 đồng và tiền công là 50.000 đồng.
Q tiếp tục ngồi uống nước tại đầu ngõ F M đến khoảng 17 giờ 40 phút cùng ngày thì đi về nhà. Trên đường về, Q nảy sinh ý định đánh đề, do lúc này đã muộn nên Q đi đến địa chỉ số D L, M, Ngô Q1, Hải Phòng mua một cặp số xiên đôi 200.000 đồng của Phạm Thị Bích N, N có ghi tích kê cho Q, trên tích kê có chữ ký của N, Q giữ bản chính cất vào trong người để nếu trúng thì lĩnh thưởng.
Căn cứ tài liệu điều tra, vào hồi 18 giờ 35 phút, ngày 19/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thị Bích N2. Thu giữ của N2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus đã qua sử dụng có lắp sim số (kiểm tra điện thoại phát hiện nội dung tin nhắn trong ứng dụng Zalo liên quan đến hành vi đánh bạc), số tiền 1.000.000 đồng. N2 khai nhận hàng ngày bán số lô đề rồi chuyển bảng cho Vũ Thị H2 để hưởng tiền % hoa hồng. Vào hồi 20 giờ 10 phút ngày 19/5/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận N tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Vũ Thị H2, không thu giữ tài sản đồ vật gì.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị Bích N2 và Vũ Thị H2 không thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Tại Cơ quan điều tra, Vũ Thị H2 và Phạm Thị Bích N khai: Do không có công ăn việc làm ổn định nên hàng ngày, Phạm Thị Bích N bán số đề cho khách đi đường rồi chuyển cho Vũ Thị H2 và một người sử dụng tài khoản Zalo “Hương Thùy”(chưa rõ lai lịch) để kiếm tiền phần trăm hoa hồng. Kết quả số đề tính theo kết quả xổ số miền B mở thưởng từ 18 giờ đến 18 giờ 30 phút hàng ngày. Việc thanh toán thu, bù bảng cho các đầu mối được tiến hành vào ngày hôm sau, hình thức thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt. Số tiền trả thưởng theo tỷ lệ như sau: nếu khách trúng thưởng số đề thì được hưởng gấp 90 lần, số ba càng là gấp 400 lần, số bao là gấp 3,4 lần; số xiên 2 là gấp 15 lần, số xiên 3 là gấp 48 lần số tiền khách bỏ ra. N được trả % hoa hồng như sau: tiền đề là 5%, tiền bao xiên là 12%, tiền ba càng 30%.
Ngày 19/5/2024, N bán được tổng số tiền 10.120.000 đồng. Toàn bộ bảng đề này, N chia làm 02 bảng nhỏ chụp lại và sử dụng zalo “Miu Miu” của mình chuyển cho zalo “Xinh Xinh” của Vũ Thị H2 01 bảng với số tiền là 3.100.000 đồng (toàn bộ là số đề), và chuyển cho zalo “Hương Thùy”01 bảng với số tiền là 7.020.000 đồng trong đó số tiền bán đề là 6.400.000 đồng, số tiền bán xiên là 600.000 đồng, số tiền bán 3 càng là 20.000 đồng. Căn cứ kết quả xổ số miền B mở thưởng ngày 19/5/2024, bảng đề của N chuyển cho H2 trúng thưởng số tiền là 2.700.000 đồng, bảng đề N chuyển cho zalo “Hương Thùy” trúng thưởng số tiền là 3.150.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc ngày 19/5/2024 của N là 15.970.000 đồng, của H2 là 5.800.000 đồng.
Ngày 20/8/2024, Công ty Cổ phần V1 có công văn trả lời về thông tin tài khoản Zalo “Hương Thùy” như sau: Thông tin không đủ cũng như Bộ phận kỹ thuật không lưu thông tin nên VNG không thể hỗ trợ cung cấp thông tin.
Kết luận giám định số 2654/KL-KTHS ngày 10/9/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Điện thoại di động Iphone 6S Plus đã qua sử dụng của Phạm Thị Bích N phát hiện một số nội dung liên quan đến hành vi phạm tội.
Tại Cáo trạng số 272/CT-VKSNQ ngày 04 tháng 10 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền truy tố các bị cáo Vũ Thị H2, Phạm Thị Bích N về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; khoản 1, khoản 3 Điều 35; Điều 17; Điều 58; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Thị H2 từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng về tội Đánh bạc.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; khoản 1, khoản 3 Điều 35; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thị Bích N từ 50.000.000 đồng đến 55.000.000 đồng về tội Đánh bạc.
- Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Vũ Thị H2, Phạm Thị Bích N kể từ ngày tuyên án.
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, b khoản 2 Điều 106, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus đã qua sử dụng có lắp sim số thu giữ của Phạm Thị Bích N.
- + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 200.000 đồng đối với số tiền ghi đề. Còn số tiền 800.000 đồng là tiền của bị cáo, không liên quan đến việc thực hiện phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Phạm Thị Bích N theo khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuy nhiên, do bị cáo phải thi hành hình phạt tiền nên tạm giữ số tiền này để đảm bảo thi hành án.
- - Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên và các bị cáo ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo hình phạt tiền; bị cáo N khai số tiền 1.000.000 đồng thu giữ là có 200.000 đồng là tiền của Q mua số đề; còn 800.000 đồng là tiền của bị cáo N, không liên quan đến việc ghi số đề.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của Trương Văn Q và kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét có đủ cơ sở kết luận: Trong ngày 19/5/2024, các bị cáo Vũ Thị H2 và Phạm Thị Bích N đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức chơi lô đề. Theo đó, Phạm Thị Bích N là người bán số bao đề, sau đó chuyển cho Vũ Thị H2 và đối tượng sử dụng Zalo “Hương Thùy” để hưởng % hoa hồng. Cụ thể: Phạm Thị Bích N đã nhận bảng lô đề với số tiền thắng thua trúng thưởng là 15.970.000 đồng,Vũ Thị H2 đã nhận bảng lô đề với số tiền thắng thua và trúng thưởng là 5.800.000 đồng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt:
[3] Xét về nhân thân: Bị cáo Phạm Thị Bích N có 01 tiền án, đã được xóa án tích. Như vậy, bị cáo có nhân thân xấu.
[4] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Vũ Thị H2, bị cáo Phạm Thị Bích N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình giải quyết vụ án, các bị cáo đã thành khẩn khai báo nên các bị cáo Vũ Thị H2, Phạm Thị Bích N được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Vũ Thị H2 được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Phạm Thị Bích N có bố đẻ được Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì vì đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên bị cáo N được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về vai trò: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành và có vai trò ngang nhau nhưng số tiền đánh bạc của bị cáo N nhiều hơn bị cáo H2 nên mức hình phạt đối với bị cáo N phải cao hơn bị cáo H2.
[7] Các bị cáo phạm tội về xâm phạm trật tự công cộng, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, bị cáo có đề nghị xử phạt hình phạt tiền và tự nguyện nộp trước một khoản tiền để chứng minh khả năng thi hành án phạt tiền. Hội đồng xét xử xét thấy áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính theo quy định tại Điều 35 Bộ luật Hình sự như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp, đủ tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
[9] Theo khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, đối với các bị cáo N, H2 đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên căn cứ Điều 32 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo N, H2.
- Về xử lý vật chứng:
[10] Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus đã qua sử dụng có lắp sim số thu giữ của Phạm Thị Bích N là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[11] Số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của bị cáo Phạm Thị Bích N thì có 200.000 đồng là số tiền N thu được do ghi đề nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; còn số tiền 800.000 đồng là tiền của bị cáo, không liên quan đến việc thực hiện phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo N theo khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuy nhiên, do bị cáo phải thi hành hình phạt tiền nên tạm giữ số tiền này để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí:
[12] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về những vấn đề khác:
[13] Đối với Trương Văn Q có hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số đề tuy nhiên chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm Đánh bạc quy định tại điều 321 Bộ luật Hình sự do số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, bản thân Q chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc nên Công an quận N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 154/QĐ-XPHC ngày 25/9/2024 về hành vi Đánh bạc đối với Trương Văn Q.
[14] Đối với đối tượng sử dụng zalo “Hương Thùy”và người giao hàng (shipper), Cơ quan điều tra chưa xác định được căn cước, lai lịch của các đối tượng nên chưa đủ căn cứ xử lý.
[15] Đối với hành vi đánh bạc của Nguyễn Thị Ánh T2, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can về hành vi Tổ chức đánh bạc.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; khoản 1, khoản 3 Điều 35; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Vũ Thị H2, Phạm Thị Bích N; áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Thị H2; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Thị Bích N.
Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Thị H2 và Phạm Thị Bích N phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt:
- + Bị cáo Vũ Thị H2 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng. Bị cáo Vũ Thị H2 đã nộp 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng theo Biên lai thu tiền số 0008877 ngày 28 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Bị cáo Vũ Thị H2 còn phải nộp 5.000.000 (năm triệu) đồng.
- + Bị cáo Phạm Thị Bích N 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng. Bị cáo Phạm Thị Bích N đã nộp 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng theo Biên lai thu tiền số 0008873 ngày 28 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Bị cáo Phạm Thị Bích N còn phải nộp 10.000.000 (mười triệu) đồng.
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Vũ Thị H2, Phạm Thị Bích N kể từ ngày tuyên án.
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, b khoản 2 Điều 106, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus đã qua sử dụng có lắp sim số thu giữ của Phạm Thị Bích N.
- (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng).
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0003173 ngày 14/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Tạm giữ số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) của bị cáo Phạm Thị Bích N theo Biên lai thu tiền số 0003173 ngày 14/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội, các bị cáo Vũ Thị H2, Phạm Thị Bích N, mỗi người phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo Vũ Thị H2, Phạm Thị Bích N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hồng Phương |
Bản án số 305/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 305/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ghi lô đề
