|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI ------------------- Bản án số: 305/2021/HSST Ngày: 24/11/2021 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ------------------------ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Tú.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Châu, Bà Nguyễn Thị Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thủy – Cán bộ Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng – Thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài Phương – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 11 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 329/2021/HSST ngày 10 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 328/2021/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Xuân Minh T, sinh năm: 1998; HKTT: Số 13 đường X, xã V, Thanh Trì, Hà Nội; Chỗ ở: Lang thang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 11/12; Con ông: Nguyễn Xuân T (Đã chết); Con bà: Nguyễn Thị H; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Nhân thân: Năm 2017 bị TAND thành phố Hà Nội xử 09 tháng tù giam về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Đã xóa án tích).
Danh chỉ bản số 283 lập ngày 30/3/2021 do Công an quận Hai Bà Trưng cung cấp. Bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 21/3/2021, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1- Công an thành phố Hà Nội. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: Chị Cao Nguyễn Quỳnh L - Sinh năm: 1999; HKTT: Phường T, thành phố Vinh, Nghệ An; Nơi ở: Số 1 Phố K, phường Đ, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Đình G - Sinh năm: 1974; HKTT và trú tại: Số 37 phố T, phường B, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Vắng mặt tại phiên toà.
- Chị Nguyễn Thị H - Sinh năm: 1980; HKTT và trú tại: Số 13 đường X, xã V, Thanh Trì, Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10h30’ ngày 20/02/2021, Nguyễn Xuân Minh T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen, không đeo biển kiểm soát đi đến khu vực ngã tư Trần Đại Nghĩa - Lê Thanh Nghị thì nhìn thấy chị Cao Nguyễn Quỳnh L điều khiển xe máy một mình đang dừng đèn đỏ nghe điện thoại nên T nảy sinh ý định cướp giật điện thoại. T lại gần nhờ chị L dẫn đường đến cổng bệnh viện Bạch Mai mục đích tìm sơ hở để cướp giật điện thoại. Khi đến khu vực cổng bệnh viện Bạch Mai, T hỏi mượn điện thoại của chị L với lý do gọi điện cho người nhà đang nằm trong bệnh viện thì chị L đồng ý. Trong khi sử dụng điện thoại T chờ chị L sơ hở để bỏ chạy nhưng do đường đông, chị L đứng chắn phía trước không đi được nên T trả lại chiếc điện thoại trên cho chị L. Sau đó, chị L điều khiển xe máy đi về hướng đường Giải Phóng còn T điều khiển xe máy đi theo phía sau chị L. Khi đến khu vực đối diện số 161 Giải Phóng, phường Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội thì chị L dừng xe và rút điện thoại ra sử dụng. Lúc này, T điều khiển xe máy đi qua chị L rồi quay đầu xe máy áp sát chị L để tiếp tục hỏi mượn điện thoại nhưng chị L không đồng ý. Tiếp đó, T dùng tay giật chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR 64Gb màu trắng của chị L rồi điểu khiển xe máy bỏ chạy.
Lúc này, T kiểm tra bên trong phần ghi chú của máy điện thoại vừa cướp giật được của chị L có lưu số tài khoản, mật khẩu tài khoản Internet Banking hai ngân hàng Vietinbank, Techcombank và mật khẩu tài khoản icloud của điện thoại. Thấy trong tài khoản hai ngân hàng trên có tổng số tiền 8.200.000đ, T gọi điện đến số điện thoại 0346666666 gặp một người đàn ông tên Lâm để giao dịch nạp tiền chơi game trên mạng. Sau đó, T truy cập vào hai tài khoản ngân hàng của chị L để chuyển khoản hai lần tổng cộng 8.000.000đ đến các tài khoản mang tên Chu Quang S và Chu Quang Thanh.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 76/KL-HĐ ĐGTS ngày 01/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hai Bà Trưng kết luận: “01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone XR, màu trắng 64 GB... trị giá: 8.000.000 đ (tám triệu đồng).”
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra... đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2]. Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lời khai người bị hại và các tài liệu chứng cứ khác. Hành vi của bị cáo Nguyễn Xuân Minh T đã phạm tội "Cướp giật tài sản" theo điểm d khoản 2 Điều 171 và tội "Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản" theo điểm a khoản 1 Điều 290 Bộ luật hình sự.
[3]. Xét nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2017 đã bị xử phạt tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân Minh T phạm tội: “Cướp giật tài sản” và tội: “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171, điểm a khoản 1 Điều 290, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 55 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Xuân Minh T: 48 (Bốn mươi tám) tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản” cộng với 12 (Mười hai) tháng tù về tội: “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành cho hai tội là: 60 (Sáu mươi) tháng tù.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và tiền bồi thường, không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xét.
4. Về xử lý vật chứng: Buộc bị cáo phải truy nộp số tiền 5.000.000 đồng thu lời bất chính để sung công quỹ nhà nước.
5. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thanh Tú |
Bản án số 305/2021/HSST ngày 24/11/2021 của Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội về cướp giật tài sản và sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 305/2021/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản và Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/11/2021
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cướp giật tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 171 BLHS 2015, Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản điểm a khoản 1 Điều 290 BLHS 2015
