|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 304/2023/HS-PT Ngày: 28- 11- 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh.
Các Thẩm phán: Ông Lê Khắc Thịnh.
Bà Nguyễn Thị Võ Trinh.
- Thư ký phiên tòa:
Bà Phan Thị Kim Loan- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Lưu Thúy Ái - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 255/2023/TLPT-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Trần Thanh T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2023/HS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
Bị cáo kháng cáo:
Trần Thanh T (Nhí), sinh ngày 01/3/1990 tại tỉnh Tiền Giang; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nơi ở hiện nay: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc T1, sinh năm 1964 và con bà Lê Thị M, sinh năm 1967; bị cáo có vợ và có 03 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; tạm giữ: Không; tạm giam: Không. Bị cáo hiện đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Thanh T:
Luật sư Nguyễn Văn T2- Văn phòng Luật sư Nguyễn Đ thuộc Đoàn Luật sư tỉnh V.
Địa chỉ: Số C, đường P, phường D, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
Ngoài ra, trong vụ án còn có người đại diện hợp pháp cho bị hại Phạm Thị O không kháng cáo; Viện Kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng hơn 12 giờ, ngày 16/01/2023, Trần Thanh T điều khiển xe mô tô biển số 71C4-369.84 chở vợ là Lâm Thị B, sinh năm 1987 và con gái tên Trần Lâm Tuyết A, sinh năm 2019 ngồi phía sau đi từ huyện C, tỉnh Bến Tre lưu thông về hướng thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Đến khoảng 13 giờ 50 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô đi đến Km 14 + 250, Quốc lộ H thuộc ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. T phát hiện xe mô tô biển số 66S1- 229.06 do chị Phạm Thị O, sinh năm 1978 điều khiển chạy cùng chiều phía trước khoảng 05m. Mặc dù lưu lượng xe chạy trên đường rất đông, T vẫn cho xe lách sang trái (không mở đèn xi nhan trái) để vượt qua xe chị O. Khi vượt qua được khoảng nửa thân xe thì có xe ô tô chạy ngược chiều đến, do sợ va chạm nên T lách xe vào trong nên mặt ngoài bắp tay phải của T va chạm vào gương chiếu hậu bên trái của xe chị O làm chị O cùng xe mô tô ngã xuống đường, chị O bị chấn thương vùng đầu. Lúc này, T điều khiển xe chạy vào lề đường, chị B đưa chị O đến Bệnh viện Đ1 cấp cứu rồi chuyển đến Bệnh viện C, Thành phố Hồ Chí Minh và Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đ điều trị đến ngày 25/02/2023 thì chị O tử vong.
Kết quả khám nghiệm hiện trường ngày 16/01/2023 và 28/3/2023 của Công an huyện C, tỉnh Đồng Tháp thể hiện: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng, chiều rộng mặt đường là 10,10 mét; ở giữa tim đường có vạch kẻ đứt quãng màu vàng chia mỗi bên có phần đường rộng 5,05 mét; tầm nhìn không bị hạn chế. Ký hiệu (1) là vị trí xe mô tô biển số 66S1- 229.06; ký hiệu (2) là vị trí xe mô tô biển số 71C4- 369.84; ký hiệu (3), (4) là vị trí vết cày; ký hiệu (5) là vùng các vết màu nâu đỏ; ký hiệu (6) là vùng rơi của các mãnh vỡ gương chiếu hậu; ký hiệu (7) là vùng va chạm giữa 02 xe mô tô. Chọn trụ điện số 4735/4768/23 và lề đường bên phải theo hướng đi từ thành phố V đến thành phố S làm mốc chuẩn và lề chuẩn.
+ Vùng (7) kích thước 0,7 x 0,7 (mét); tâm (7) vào lề chuẩn 4,35 mét; cách điểm mốc 12,65 mét; cách đầu vết cày (3) 1,95 mét; cách trục trước (1) là 10,95 mét; cách tâm trục sau xe (2) là 22,8 mét.
Khám nghiệm phương tiện ngày 16/01/2023 ghi nhận:
- Xe mô tô biển số 66S1- 229.06:
- + Gương chiếu hậu bên trái bị rơi khỏi chân cố định gương.
- + Đầu gù tay phanh trái có vết mài mòn, kích thước 0,005 x 0,005 (mét).
- + Mặt ngoài cánh yếm bên trái xe bị xướt trượt, kích thước 0,45 x 0,02 (mét).
- + Phía trước cung chắn bùn trước có vết xướt trượt, kích thước 0,07 x 0,03 (mét).
- + Ốp nhựa hông thân bên trái xe có vết xướt trượt, kích thước 0,1 x 0,02 (mét).
- + Mặt dưới để chân sau bên trái xe có vết trầy xướt, kích thước 0,015 x 0,01 (mét).
- + Bát cố định để chân sau bên trái xe có vết mài mòn, kích thước 0,02 x 0,005 (mét).
- + Mặt ngoài cần đạp chân chống giữa của xe có vết mài mòn, kích thước 0,03 x 0,005 (mét).
- + Mặt ngoài lốc máy xe có vết xướt trượt, kích thước 0,08 x 0,01 (mét).
- Xe mô tô biển số 71C4- 369.84: Không có dấu vết va chạm.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tạm giữ:
- - 01 xe mô tô biển số 66S1- 229.06 và giấy phép lái xe hạng A1 của chị Phạm Thị O.
- - 01 xe mô tô biển số 71C4- 369.84 và 01 giấy đăng ký xe mô tô số 026677 của chị Lâm Thị B.
- - 01 đoạn dữ liệu Camera ở nhà của anh Nguyễn Hiếu T3, sinh năm 1980, ngụ ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp ghi nhận được hình ảnh xe mô tô biển số 71C4- 369.84 vượt phía bên trái xe mô tô biển số 66S1- 229.06 không đảm bảo an toàn dẫn đến va chạm.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 70/TTh-TTPY ngày 09/3/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Đ kết luận: Nguyên nhân tử vong của chị Phạm Thị O là do chấn thương sọ não nặng + Suy hô hấp cấp/Lao đa màng.
Tại bản kết luận giám định số 99/KL-KTHS ngày 27/01/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu máu chứa trong ống nghiệm, ghi thu của Trần Thanh T, sinh năm 1990, được thu giữ vào ngày 16/01/2023 tại Bệnh viện Đ1, tại thời điểm giám định ngày 20/01/2023 không phát hiện thành phần cồn (Ethanol).
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã phối hợp với Bệnh viện Đ1 thu kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của Phạm Thị O: Kết quả nồng độ cồn trong máu của chị O vào ngày 16/01/2023 là 37,53 mmol/l (tương đương 172,9 mg/100 ml) máu.
Về trách nhiệm dân sự:
Chị Phạm Thị Cẩm N là người đại diện theo ủy quyền phía gia đình của chị Phạm Thị O yêu cầu bị cáo T bồi thường chi phí nằm viện và mai táng với tổng số tiền là 150.000.000 đồng và T đã bồi thường xong. Ngày 11/5/2023, chị N có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo T.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Đồng Tháp đã trao trả 01 xe mô tô biển số 66S1- 229.06 và giấy phép lái xe hạng A1 của chị Phạm Thị O cho gia đình chị O quản lý.
Đối với xe mô tô biển số 71C4- 369.84 do chị Lâm Thị B vợ bị cáo T đứng tên chủ sở hữu. Trần Thanh T điều khiển xe mô tô biển số 71C4- 369.84, chị B không biết T không có giấy phép lái xe nên không xem xét xử lý chị B về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”. Hiện đã trao trả xe mô tô trên cho chị B để tiếp tục quản lý sử dụng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2023/HS-ST ngày 01/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp đã xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Thanh T 01 (một) năm 06 (sáu) thàng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11 tháng 8 năm 2023 bị cáo Trần Thanh T có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Thanh T thừa nhận hành vi vi phạm như nội dung bản án sơ thẩm miêu tả. Bị cáo thừa nhận Bản án số 35/2023/HS-ST ngày 01/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp kết án bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 là đúng. Tuy nhiên, bị cáo cho rằng mức hình phạt 01 năm 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo là nặng, nên bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo xin được hưởng án treo, vì trong vụ án này bị cáo đã thành khẩn khai báo, đã bồi thường xong cho gia đình bị hại, gia đình bị hại có đơn yêu cầu miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo là lao động chính, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo nuôi cha già đang bị bệnh và nuôi con nhỏ còn đang đi học.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm nhận định: Hành vi của bị cáo Trần Thanh T bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Các chứng cứ kết tội mà các Cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là có cơ sở, đúng pháp luật. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã có xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo do bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường xong cho gia đình bị hại, được bên bị hại xin không truy cứu trách nhiệm hình sự và Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để quyết định mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố, xét xử. Nhận thấy mức hình phạt 01 năm 06 tháng tù là phù hợp. Nay bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo, có nêu lý do kháng cáo là hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính, cha đang bị bệnh, bị cáo là người duy nhất chăm sóc cha. Các lý do này là không có cơ sở chấp nhận, vì bị cáo không phải là con duy nhất, mẹ của bị cáo cũng chưa hết tuổi lao động. Vì vậy, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo T.
Tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Thanh T phát biểu:
Bị cáo T thừa nhận việc bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử là đúng, bị cáo thừa nhận lỗi của bị cáo là không có giấy phép lái xe, nhưng Luật sư nhận thấy đây là vụ án mà bị hại cũng có lỗi do bị hại điều khiển xe mà trong người cũng có nồng độ cồn, do đó đây là vụ án có lỗi hỗn hợp. Bị cáo T được gia đình của bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên đối chiếu với quy định tại khoản 3 Điều 29 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo T có thể được miễn trách nhiệm hình sự, vì bị cáo phạm tội với lỗi vô ý. Trong vụ án này, bị cáo T không có tình tiết tăng nặng, mà bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ là đã bồi thường thiệt hại xong hết cho gia đình bị hại, bị cáo thành khẩn khai báo theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hiện nay, hoàn cảnh gia đình của bị cáo rất khó khăn, cha của bị cáo đang bị bệnh tai biến phải nằm 01 chỗ tại Bệnh viện, bị cưa mất 01 chân, mất luôn trí nhớ; mẹ của bị cáo thì lo chăm sóc cho cha của bị cáo nên bà ấy cũng không làm gì ra tiền; bị cáo có 03 người con, nên vợ của bị cáo ở nhà chăm sóc con, nuôi cha chồng, cũng không làm gì ra tiền được. Do đó bị cáo là lao động chính, nếu bị cáo bị xét xử tù giam thì hoàn cảnh gia đình bị cáo sẽ lâm vào hoàn cảnh vô cùng khó khăn. Từ những lý do trên, Luật sư xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo T được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự vì bị cáo đủ điều kiện để được hưởng án treo.
Tại phần tranh luận bị cáo toàn không tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo, cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện chăm lo cho gia đình của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Bị cáo Trần Thanh T không có giấy phép lái xe theo quy định nhưng bị cáo vẫn điều khiển xe mô tô biển số 71C4- 369.84 chở vợ là chị Lâm Thị B và con gái tên Trần Lâm Tuyết A ngồi phía sau đi từ hướng thành phố V, tỉnh Vĩnh Long lưu thông về hướng thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Đến khoảng 13 giờ 50 phút, ngày 16/01/2023, khi đến Km 14 + 250, Quốc lộ H thuộc ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Mặc dù không đảm bảo an toàn để vượt nhưng T vẫn điều khiển xe mô tô lách về bên trái để vượt qua xe mô tô biển số 66S1- 229.06 do chị Phạm Thị O điều khiển chạy cùng chiều phía trước nên mặt ngoài bắp tay phải của T va chạm vào gương chiếu hậu bên trái của xe chị O làm chị O cùng xe mô tô biển số 66S1-229.06 ngã xuống đường. Hậu quả là chị O bị chấn thương sọ não nặng, suy hô hấp cấp/ Lao đa màng dẫn đến tử vong.
Hành vi của bị cáo Trần Thanh T đã vi phạm quy định tại khoản 9 Điều 8 và khoản 1, khoản 2 Điều 14 của Luật giao thông đường bộ và dẫn đến hậu quả chết người. Nguyên nhân cái chết của bị hại là do hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo trực tiếp gây ra. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2023/HS-ST ngày 01/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp kết án bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật.
[2] Xét thấy, khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, xét đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và xem xét các tình tiết giảm nhẹ do bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại, bị cáo thành khẩn khai báo, gia đình bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xét xử bị cáo mức án thấp hơn mức thấp nhất của khung hình phạt mà bị cáo vi phạm. Vì vậy, mức án 01 năm 06 tháng tù đối với bị cáo là phù hợp. Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo và nêu ra lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính, cha của bị cáo đang bệnh nặng, nhưng xét thấy bị cáo không phải là con duy nhất trong gia đình, mẹ của bị cáo và vợ của bị cáo cũng còn khả năng lao động, nên các lý do kháng cáo là không có cơ sở chấp nhận. Trong vụ án này, mặc dù bị cáo phạm tội với lỗi vô ý nhưng thuộc trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng. Đồng thời xét thấy tình trạng vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong phạm vi cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp nói riêng trong thời gian qua và ở thời điểm hiện nay là rất đáng báo động, nên mọi hành vi vi phạm cần phải được xử lý nghiêm mới bảo đảm ổn định trật tự an toàn giao thông, góp phần răn đe và phòng ngừa chung. Từ các phân tích trên, không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trần Thanh T, Hội đồng xét xử giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.
[3] Xét thấy phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ chấp nhận; không có căn cứ để chấp nhận lời bào chữa của Luật sư bào chữa cho bị cáo T, lý do đã phân tích ở trên.
[4] Do kháng cáo của bị cáo Trần Thanh T không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trần Thanh T.
Giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2023/HS-ST ngày 01/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp về phần hình phạt đối với bị cáo Trần Thanh T.
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Trần Thanh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/02/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Thanh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tuấn Anh |
Bản án số 304/2023/HS-PT ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 304/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự Phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thanh T
