Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 304/2023/HS-ST

Ngày 27 - 12 - 2023

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Cúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Hiền
  2. Bà Trần Thị Tuyết

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hương - Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 12 năm 2023 tại Phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 272/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 305/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Đỗ Tuấn D, tên gọi khác: không; sinh ngày 07 tháng 02 năm 1984 tại Hải Phòng; nơi thường trú: số C Miếu H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: căn hộ C (tầng 3), Tòa A, Chung cư G, thuộc tổ C, khu C, phường H, thành phố H; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn V và bà Phạm Thị L; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt ngày 28/8/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Đại D1, sinh năm 1990; nơi thường trú: khu H, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương; nơi ở hiện tại: 2 V, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
  2. Anh Vũ Tuấn A, sinh năm 1979; nơi cư trú: 7 đường Đ, phường Đ, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

+ Người chứng kiến: Anh Đinh Văn T, sinh năm 1980; nơi cư trú: tổ C, khu B, phường B, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 30 phút, ngày 28/8/2023 tại tầng 3 khu vực tòa A, Chung cư G thuộc tổ C, khu C, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Công an thành phố H phát hiện và bắt quả tang Đỗ Tuấn D có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: thu trong một túi nilon màu đỏ D đang xách ở tay trái có 02 bức tượng được sơn màu vàng, 01 chiếc áo nữ màu đen, 01 chiếc quần soóc nữ, màu trắng. Tại vị trí túi nhỏ phía trước, bên phải của chiếc quần soóc có 01 gói hình chữ nhật băng dính màu đen bên trong là túi nilon trong suốt được hàn kín, kích thước khoảng (3x5)cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, nghi là ma túy.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đỗ Tuấn D tại căn hộ C, Tòa A, chung cư G, thuộc tổ C, khu C, phường H, thành phố H, thu giữ: 01 (một) chai nhựa trong suốt, không có nhãn mác, loại 360ml, trên nắp chai có 02 lỗ nhỏ, trong đó 01 lỗ có cắm ống thủy tinh có bầu tròn, 01 lỗ có cắm ống hút nhựa; 01 (một) chiếc bật lửa khò, có chữ Hoa V1, đầu bật lửa được gắn một đoạn ống ngắn nhỏ bằng kim loại; 01 (một) căn cước công dân mang tên Đỗ Tuấn D.

Tại kết luận giám định số 1241/KL-KTHS ngày 01/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: chất tinh thể màu trắng thu giữ của Đỗ Tuấn D là ma túy loại Methamphetamine khối lượng 1,014gam (một phẩy không một bốn gam).

Quá trình điều tra bị cáo Đỗ Tuấn D khai nhận: D sử dụng ma túy dạng đá từ tháng 01/2023 đến nay. Cuối tháng 7/2023, thông qua người phụ nữ tên L1 ở thành phố Hải Phòng (không rõ nhân thân, lai lịch), D quen một người đàn ông tên là Tuấn A có thể mua được ma túy đá cho D. Sau đó, D liên hệ với Tuấn A qua số điện thoại 0906.028.xxx để nhờ mua hộ ma túy đá, trả tiền công cho Tuấn A là 500.000 đồng mỗi lần mua, D chuyển khoản cho Tuấn A qua tài khoản ngân hàng. Thông qua mạng xã hội, D thuê anh Nguyễn Đại D1 lái xe taxi đến địa chỉ số F, đường Đ, phường Đ, quận L, thành phố Hải Phòng để lấy ma túy từ Tuấn A chuyến về thành phố H cho D. D đã nhờ Tuấn A mua hộ ma túy đá 04 lần với tổng số tiến là 9.000.000 đồng. Ngoài ra, D nhiều lần nhờ Tuấn A nạp tiền vào trò chơi trên mạng. D chưa từng gặp mặt Tuấn A. Đối với anh D1, ngoài các lần nhận đồ do Tuấn A gửi thì D còn nhờ anh D1 vận chuyển các đồ khác từ thành phố Hải Phòng về thành phố H, tỉnh Quảng Ninh cho mình, anh D1 không biết là ma túy.

Người làm chứng - anh Nguyễn Đại D1 khai: Anh không biết trong các đồ mà anh nhận tại địa chỉ số F, đường Đ, phường Đ, thành phố Hải Phòng sau đó chuyển về cho D tại phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh có chứa ma túy đá. Anh D1 khai mỗi lần đến địa chỉ trên, anh D1 nhận đồ từ những người khác nhau, họ đều đội mũ, đeo khẩu trang nên anh D1 không có khả năng nhận dạng họ.

Người làm chứng - anh Vũ Tuấn A khai: Đỗ Tuấn D là người quen qua xã hội, giữa Tuấn AD hoàn toàn không có mâu thuẫn gì. Thỉnh thoảng, D nhờ Tuấn A nạp tiền vào trò chơi trên mạng cho D, sau đó, D chuyển tiền vào tài khoản cho Tuấn A. Tuấn A khẳng định không mua hộ ma túy đá cũng không gửi đồ gì cho D vào ngày 28/8/2023 và những ngày khác.

Cơ quan điều tra tiến hành cho Đỗ Tuấn DVũ Tuấn A đối chất. D vẫn giữ nguyên lời khai mua ma túy của Tuấn A. Tuấn A vẫn giữ nguyên lời khai không bán ma túy cho D.

Người chứng kiến - anh Đinh Văn T có lời khai chứng kiến công an bắt quả tang Đỗ Tuấn D, thu tại vị trí túi nhỏ phía trước, bên phải của chiếc quần soóc có 01 túi nilon được dán băng dính đen bên ngoài, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. D khai nhận là ma túy đá để sử dụng cho bản thân.

Tại Cáo trạng số: 281/CT-VKSHL ngày 28/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Đỗ Tuấn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Tuấn D từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/8/2023.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,96 gam Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn nguyên niêm phong số 1241/KL-KTHS ngày 01/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q; 02 bức tượng; 01 chiếc áo phụ nữ, màu đen; 01 chiếc quần phụ nữ, màu trắng; 01 chai nhựa; 01 bộ nỏ thủy tinh có gắn ống hút nhựa; 01 bật lửa khò, có chữa Hoa V1, đầu bật lửa được gắn đoạn ống ngắn nhỏ bằng kim loại; 01 túi nilon màu đỏ.

Trả lại bị cáo Đỗ Tuấn D 01 căn cước công dân số [...]; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone, màu vàng + kèm 01 sim điện thoại; 01 điện thoại nhãn hiệu Masstel, màu xanh + kèm 01 sim điện thoại.

Quá trình khai báo tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, việc bị đưa ra xét xử là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, việc khai báo tự nguyện không bị ép buộc, bị cáo không xác định được mua ma túy của ai. Lời nói sau cùng của bị cáo: đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bảo đảm các quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Bị cáo Đỗ Tuấn D có các lời khai cơ bản phù hợp với nhau, phù hợp với nội dung vụ án về việc bị cáo đã mua 01 gói ma túy với mục đích để sử dụng thì bị Công an kiểm tra bắt giữ.

Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 21 giờ 45 phút ngày 28/8/2023 tại Căn hộ C chung cư G thuộc tổ C, khu C, phường H, thành phố H và lời khai của những người chứng kiến thể hiện: vào hồi 21 giờ 30 phút, ngày 28/8/2023 tại tầng 3 khu vực tòa A, Chung cư G thuộc tổ C, khu C, phường H, thành phố H, Đỗ Tuấn D có hành vi tàng trữ trái phép 1,014gam (một phẩy không một bốn gam) ma túy Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị Công an thành phố H phát hiện và bắt quả tang.

Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu, kết luận giám định và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi của bị cáo Đỗ Tuấn D đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tính chất mức độ, hành vi phạm tội: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, ma túy là hiểm họa và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm xã hội khác. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với xã hội cũng như đối với sức khỏe, nhưng đã bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, cất giữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích thỏa mãn việc sử dụng ma túy của bản thân. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục và ngăn ngừa tội phạm.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt chính: Căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự, sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy: bị cáo lần đầu phạm tội, có tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Nhưng hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo cũng như để tăng cường phòng ngừa tội phạm chung.

[7] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng.

[8] Về vật chứng vụ án: 0,96 gam Heroin mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn nguyên niêm phong số 1241/KL-KTHS ngày 01/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q đây là vật cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.

02 bức tượng; 01 chiếc áo phụ nữ, màu đen; 01 chiếc quần phụ nữ, màu trắng; 01 chai nhựa; 01 bộ nỏ thủy tinh có gắn ống hút nhựa; 01 bật lửa khò, có chữa Hoa V1, đầu bật lửa được gắn đoạn ống ngắn nhỏ bằng kim loại; 01 túi nilon màu đỏ là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

01 (một) căn cước công dân mang tên Đỗ Tuấn D và 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Masstel không liên quan đến hành vi phạm tội; 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone, màu vàng không chứng minh được bị cáo D sử dụng vào việc mua bán ma túy. Do vậy, cần trả lại các tài sản trên cho bị cáo D.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[11] Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tại phiên tòa đề nghị áp dụng điều luật, mức hình phạt đối với bị cáo, xử lý vật chứng là có căn cứ phù hợp với nhận định của Tòa án.

Đối với Vũ Tuấn A là người D khai nhờ mua hộ ma túy đá, do không có tài liệu chứng minh nên không có căn cứ xử lý.

Đối với anh Nguyễn Đại D1 khi chuyển đồ không biết bên trong có chứa ma túy đá nên không đề cập xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Đỗ Tuấn D 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 28/8/2023.

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 0,96 gam Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn nguyên niêm phong số 1241/KL-KTHS ngày 01/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q; 02 bức tượng; 01 chiếc áo phụ nữ, màu đen; 01 chiếc quần phụ nữ, màu trắng; 01 chai nhựa; 01 bộ nỏ thủy tinh có gắn ống hút nhựa; 01 bật lửa khò, có chữa Hoa V1, đầu bật lửa được gắn đoạn ống ngắn nhỏ bằng kim loại; 01 túi nilon màu đỏ.

Trả lại bị cáo Đỗ Tuấn D 01 căn cước công dân số [...]; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone, màu vàng + kèm 01 sim điện thoại; 01 điện thoại nhãn hiệu Masstel, màu xanh + kèm 01 sim điện thoại.

(tình trạng vật chứng trên như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 82/BB-THA ngày 15/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh).

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đỗ Tuấn D phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND TP Hạ Long;
  • - CQĐT Công an TP Hạ Long, CQTHAHS Công an thành phố Hạ Long;
  • - Công an thành phố Hạ Long;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS TP Hạ Long;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Phạm Thị Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 304/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 304/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Tuấn D - tàng trữ ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger