TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án: 304/2023/HNGĐ-ST Ngày: 25/8/2023 V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Chúc Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Hoàng Nghiệp;
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Diệp
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thanh Trúc Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 220/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 322/2023/QĐXXST-HN ngày 17 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 381/2023/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm 2000; địa chỉ: Tổ 12, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
Bị đơn: Ông Trần Minh N, sinh năm 2000; địa chỉ: Tổ 08, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.
Bà N vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; ông N vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Trần Thị N trình bày: Hôn nhân giữa bà N và ông Trần Minh N do tự tìm hiểu, thương yêu, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang vào ngày 22/02/2021. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông N không chăm lo cuộc sống gia đình, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung. Khoảng tháng 02/2023, do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn nên cả hai đã sống ly thân từ đó cho đến nay, ông N biết bà ly hôn và cũng đồng ý nhưng không chịu đến tòa, theo bà biết thì ông N cũng đã có người
cuộc sống gia đình với người khác. Nhận thấy tình cảm dành cho ông N không còn nữa, đời sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà Trần Thị N nộp đơn yêu cầu ly hôn với ông Trần Minh N.
Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Thiên K, sinh ngày 09/7/2021. Hiện nay, cháu K đang sống với bà N. Sau khi ly hôn, bà N yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu K, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.
Biên bản lấy lời khai ngày 22/6/2023 hàng xóm sống gần nhà bà N cung cấp: Nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà N, ông N là do ông N không chăm lo cuộc sống gia đình, một mình bà N lo cho gia đình, cả hai thường xuyên cải nhau, hiện đã ly thân; về con chung thì có 01 con chung sinh năm 2021 do Nhị nuôi dạy; về tài sản chung, nợ chung thì ông không biết.
Biên bản xác minh ngày 14/7/2023, Công an xã P cung cấp, ông Nguyễn Minh N, sinh năm 2000, hiện vẫn còn đăng ký thường trú tại ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông N không có mặt theo các văn bản triệu tập của Tòa nên không ghi nhận được ý kiến và ông N cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến. Để đảm bảo quyền lợi của ông N, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt Thông báo về kết quả phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiêp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo về việc Tòa án thu thập được tài liệu, chứng cứ, tuy nhiên ông N vẫn không có ý kiến.
Tại phiên tòa, bà N vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Riêng ông N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi; thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ sợ vụ án cho thấy hôn nhân của bà N, ông N có mâu thuẫn trầm trọng, trong thời gian ly thân cả hai không có giải pháp hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Thiên K, sinh ngày 09/7/2021. Hiện nay, cháu K đang sống với bà N, để đảm bảo điều kiện cho con chung phát triển và ổn định về tâm sinh lý đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu K cho bà N được tiếp tục nuôi dạy. Công nhận sự tự nguyện của bà N về việc không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung.
2
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Trần Thị N yêu cầu được ly hôn với ông Trần Minh N. Ông N cư trú tại huyện An Phú, tỉnh An Giang nên được Tòa án thụ lý giải quyết theo Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bà N vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, ông N được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự trong quá trình tố tụng thể hiện: Quan hệ hôn nhân giữa bà N, ông N do tự tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang vào ngày 22/02/2021 nên làm phát sinh giá trị pháp lý theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét yêu cầu của bà N xin ly hôn với ông N. Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà N, ông N phát sinh nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn nên mới sống ly thân. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã hòa giải đoàn tụ cho cả hai nhưng ông N không có mặt để hàn gắn tình cảm. Cho thấy, mâu thuẫn tình cảm giữa hai bên đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, điều này là phù hợp với lời trình bày của người sống gần nhà bà N, nên yêu cầu ly hôn của bà N là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Thiên K, sinh ngày 09/7/2021. Hiện nay, cháu K đang sống với bà N. Xét thấy cháu K còn nhỏ, để tránh xáo trộn về mặt tâm, sinh lý đối với con chung và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên nên Hội đồng xét xử tiếp tục để bà N nuôi dạy cháu K.
Về cấp dưỡng: Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn cha hoặc mẹ là người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, bà N không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện của đương sự.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà N xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Tuy nhiên, nếu có căn cứ xác định có tài sản chung, nợ chung thì các đương sự có thể khởi kiện và sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
[5] Về án phí: Bà N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Các Điều 9, Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
3
Khoản 4 Điều 147, các Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị N.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị N được ly hôn với ông Trần Minh N.
Giấy chứng nhận kết hôn số 12 ngày 22/02/2021 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang không còn giá trị pháp lý kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.
Về con chung: Bà Trần Thị N được tiếp tục nuôi dạy 01 (một) con chung tên Trần Thiên K, sinh ngày 09/7/2021. Công nhận sự tự nguyện của bà N về việc không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông N cùng các thành viên gia đình phải tôn trọng quyền trực tiếp nuôi con của bà N. Ngược lại bà N và các thành viên trong gia đình không được cản trở ông N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.
Về án phí: Bà Trần Thị N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Số tiền này được chuyển từ tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) mà bà N đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú theo biên lai thu số 0008332 ngày 01/6/2023. Ông N không phải chịu án phí.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
(Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Chúc Phương |
4
Bản án số 304/2023/HNGĐ-ST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 304/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị N ly hôn Trần Minh N
