|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 304/2024/HS-ST Ngày: 12-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lương Thanh Nhàn;
- Ô Lê Thành Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Triều Mến - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 318/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 245/2024/QĐXXST-HS ngày 22/11/2024 đối với các bị cáo:
- Phạm Văn B, sinh năm: 1982 tại tỉnh Tây Ninh; đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, huyện D; tỉnh Tây Ninh; đăng ký tạm trú: Ấp E, xã B; huyện G, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn C, sinh năm: 1962 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1963; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1982 và 02 con, lớn sinh năm: 2004, nhỏ sinh năm: 2005; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 15/7/2010 bị Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội: “Cố ý gây thương tích”, đã được xóa án tích; bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 04/10/2024 cho đến nay - có mặt.
- Trần Văn H2, sinh năm: 1980 tại tỉnh Tây Ninh; đăng ký thường trú: Ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn R (không rõ năm sinh) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1957; bị cáo có vợ tên Lê Thị Thu H3 (đã ly hôn) và 01 con, sinh năm: 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Huỳnh Thị T1, sinh năm: 1983; đăng ký thường trú: Số C, đường M, Phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh – vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.
- Phạm Thị Tuyết H4, sinh năm 2005, nơi thường: Ấp T, xã T, huyện D, tỉnh Tây Ninh – vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.
- Phạm Lam H5, sinh năm 2005, nơi thường: Ấp T, xã T, huyện D, tỉnh Tây Ninh – vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.
- Ông Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1948, đăng ký thường trú: Khu phố K, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương – vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn H2 và Phạm Văn B là bạn bè. Năm 2019, H2 mua xe ô tô tải hiệu Hyundai, biển số 61L-3656, sản xuất năm 1997 (do ông Nguyễn Thanh T2 đứng tên đăng ký) của một người (không rõ lai lịch) tại tỉnh Bình Thuận với giá 75.000.000 đồng. Khi mua xe, giữa H2 và người bán viết giấy tay mua bán xe nhưng H2 đã làm mất giấy này, người bán giao xe kèm giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô cho H2. H2 mua xe ô tô tải mục đích cho thuê vận chuyển hàng hóa.
Khoảng đầu tháng 01/2023, H2 và B uống nước tại quán cà phê 24 Giờ thuộc xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh. H2 kể cho B nghe việc xe ô tô biển số 61L-3656 đã hết hạn lưu hành nên không đăng kiểm được, H2 dự định bán xe. B nói với H2 là B có thể làm được giấy chứng nhận kiểm định cho xe ô tô với giá 2.500.000 đồng thì H2 đồng ý nhờ B làm giúp. H2 đưa cho B giấy chứng nhận kiểm định số DA 2425926 do Trung tâm Đ cấp ngày 25/01/2022 cho xe ô tô tải biển số 61L-3656, có hiệu lực đến ngày 31/12/2022.
Ngày 06/01/2023, B nói H2 chuyển số tiền 2.500.000 đồng vào số tài khoản 700022721554 tại Ngân hàng TNHH MTV S do con gái của B là Phạm Thị Tuyết H4 làm chủ tài khoản. Hận nhờ Huỳnh Thị T1 (người chung sống như vợ chồng với H2) sử dụng tài khoản ngân hàng của H2 số 0899956070 tại Ngân hàng TMCP Q chuyển 2.500.000 đồng vào số tài khoản của Tuyết H4 (do H2 không biết chữ). H2 không nói cho T1 biết mục đích chuyển tiền là gì. Sau khi H2 chuyển tiền, B nhờ con gái tên Phạm Lam H5 sử dụng thẻ ATM của tài khoản số [...] đi rút 2.500.000 đồng đưa cho B, vì thẻ ATM này Lam H5 đang sử dụng. Bến không nói cho Tuyết H4 và Lam H5 biết nguồn gốc 2.500.000 đồng từ đâu có.
Sau khi nhận được tiền, B lên mạng xã hội facebook vào tài khoản “Làm bằng lái, giấy tờ các loại...” đặt làm Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển số 61L-3656 giả với giá 2.000.000 đồng và cung cấp cho người làm giấy tờ giả hình giấy chứng nhận kiểm định số DA 2425926 cùng thông tin địa chỉ, số điện thoại của B. Khoảng 03 ngày sau, có một người đàn ông (không rõ lai lịch) liên hệ giao cho B 01 Giấy chứng nhận kiểm định số DA 9228125 của Trung tâm Đ1 cấp ngày 07/01/2023 cho xe ô tô tải biển số 61L-3656, có hiệu lực đến ngày 06/4/2023, B trả cho người này số tiền 2.000.000 đồng. Cùng ngày, B hẹn H2 gặp nhau tại quán cà phê 24 Giờ và đưa Giấy chứng nhận kiểm định số DA 9228125 giả cho H2. Sau đó, H2 cất giấy chứng nhận kiểm định giả bên trong cabin xe ô tô tải biển số 61L-3656 để khi cho thuê xe, tài xế sẽ tự lấy xuất trình cho cơ quan chức năng. H2 không nói cho T1 biết về việc đặt B làm giả giấy chứng nhận kiểm định xe.
Ngày 06/02/2023, Công ty H6, địa chỉ: A, đường H, khu phố B, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai liên lạc thuê T1 vận chuyển chất thải từ Công ty B1, địa chỉ: Đường N, KCN M, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương đến Công ty H6 với giá 1.500.000 đồng/chuyến. T1 thuê ông Phan Văn N, sinh năm: 1986, nơi thường trú: Ấp B, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh làm tài xế lái xe trả tiền theo chuyến.
Sáng ngày 07/02/2023, ông N đến khu vực gần cầu B, xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương gặp H2 để nhận xe ô tô biển số 61L-3656, rồi điều khiển xe đến công ty B1 chở chất thải. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi chất thải được chất lên thùng xe, khi ông N điều khiển xe ô tô biển số 61L-3656 chở chất thải đi đến đoạn đường G thuộc khu phố C, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng Công an thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương tiến hành kiểm tra hành chính. Nhanh xuất trình giấy chứng nhận đăng kiểm thì bị lực lượng Công an phát hiện thu giữ:
- 01 xe ô tô tải hiệu Hyundai, biển số 61L-3656;
- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 010177;
- 01 giấy chứng nhận bảo hiểm số BB21 0100929;
- 01 Giấy chứng nhận kiểm định số DA 9228125.
Theo Kết luận giám định số 97 ngày 14/3/2023 của Phòng K - Công an tỉnh B, kết luận: Chữ ký mang tên “Khuất Duy T3”, hình dấu tròn có nội dung “* BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI * CỤC ĐĂNG KIỂM VIỆT NAM - TRUNG TÂM ĐĂNG KIỂM XE CƠ GIỚI SỐ 50-05V” trên tài liệu cần giám định so với chữ ký của ông Khuất Duy T3, hình dấu tròn có cùng nội dung trên các tài liệu mẫu không phải do cùng một người ký và con dấu đóng ra.
Ngày 22/10/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B xử lý giao trả cho Trần Văn H2: 01 xe ô tô tải hiệu Hyundai, biển số 61L-3656; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 010177; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm số BB21 0100929.
Bản Cáo trạng số 312/CT-VKSBC ngày 08/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Phạm Văn B về tội: “Làm giả tài liệu của tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); truy tố bị cáo Trần Văn H2 về tội: “Sử dụng tài liệu giả của tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như nội dung Cáo trạng nêu trên và không có ý kiến gì khác.
Tại phần tranh luận:
- Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trình bày luận tội:
- - Giữ nguyên quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tại Bản Cáo trạng số 312/CT-VKS-BC ngày 08/11/2024 đối với các bị cáo Phạm Văn B, Trần Văn H2.
- + Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo bị cáo Phạm Văn B từ 07 đến 09 tháng tù về tội: “Làm giả tài liệu của tổ chức”.
- + Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Trần Văn H2 từ 06 đến 08 tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Sử dụng tài liệu giả của tổ chức”.
- Các bị cáo Phạm Văn B, Trần Văn H2 không bào chữa, không phát biểu ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.
Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.
Lời nói sau cùng của các bị cáo Phạm Văn B, Trần Văn H2: Bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nên đồng ý với quyết định truy tố của Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra C (nay là thành phố) B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã (nay là thành phố) B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.
- [2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo Trần Văn H2, Phạm Văn B tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, do đó có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng tháng 01/2023, Phạm Văn B thỏa thuận làm giả cho Trần Văn H2 01 Giấy chứng nhận kiểm định cho xe ô tô tải biển số 61L-3656 với giá 2.500.000 đồng. H2 nhờ T1 chuyển khoản tiền vào tài khoản của B chỉ định và đưa cho B Giấy chứng nhận kiểm định số DA2425926, cấp ngày 25/01/2022 . Bến lên mạng xã hội đặt 01 đối tượng (không rõ lai lịch) làm giấy chứng nhận kiểm định giả với giá 2.000.000 đồng. Sau khi nhận được 01 Giấy chứng nhận kiểm định số DA 9228125 giả, B giao cho H2. Sáng ngày 07/02/2023, H2 để sẵn giấy chứng nhận kiểm định giả trên xe ô tô tải biển số 61L-3656 và giao xe cho tài xế Phan Văn N điều khiển đi chở hàng hóa. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 07/02/2023, ông N điều khiển xe đến đoạn đường G thuộc khu phố C, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng Công an kiểm tra hành chính phát hiện.
Hành vi lên mạng xã hội đặt làm giả Giấy chứng nhận kiểm định cho xe ô tô tải biển số 61L-3656 của Phạm Văn B đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Làm giả tài liệu của tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi sử dụng Giấy chứng nhận kiểm định cho xe ô tô tải biển số 61L-3656 giả của bị cáo đã Trần Văn H2 đủ yếu tố cấu thành tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bản Cáo trạng số 312/CT-VKSBC ngày 08/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội.
- [3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- [3.1] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến hoạt động của cơ quan Nhà nước trong lĩnh vực quản lý và cấp Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự công cộng tại địa phương. Do đó, đối với các bị cáo cần phải có mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
- [3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Trần Văn H2 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bị cáo Phạm Văn B thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- [3.3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- [4] Bị cáo B là người đề xướng việc thực hiện hành vi phạm tội. Trong giai đoạn điều tra, bị cáo B bỏ trốn, đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra - C (nay là thành phố) Bến Cát truy nã. Bị cáo B từng bị kết án về tội: “Cố ý gây thương tích”, đã được xóa án tích, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên cần cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với bị cáo này. Xét thấy, cần tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục.
- [5] Xét bị cáo Trần Văn H2 có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo có đủ điều kiện cho hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo. Xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội nên không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự, cho bị cáo hưởng án treo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục. Tại phiên tòa, bị cáo khai không còn tạm trú tại địa chỉ: Nhà thuê ông M, số C, đường số I, ấp S, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương nên cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nới bị cáo đăng ký thường trú là xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục.
- [6] Lời đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận.
- [7] Về xử lý vật chứng: Ngày 22/10/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra C (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương trả cho Trần Văn H2: 01 xe ô tô tải hiệu Hyundai, biển số 61L-3656; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 010177; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm số BB21 0100929 là phù hợp.
- [8] Bị cáo Phạm Văn B thu lợi bất chính từ hành vi làm giả tài liệu được 500.000 đồng: Cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
- [9] Đối với đối tượng nhận làm giả Giấy chứng nhận kiểm định cho Phạm Văn B: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ sẽ xem xét xử lý bằng vụ án khác.
Huỳnh Thị T1, Phạm Thị Tuyết H4 và Phạm Lam H5 không biết Phạm Văn B, Trần Văn H2 nhờ thực hiện các giao dịch chuyển khoản, rút tiền để thực hiện hành vi phạm tội nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không truy cứu trách nhiệm hình sự là phù hợp.
Đối với Phan Văn N: Ông N không biết Giấy chứng nhận kiểm định là giả nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không truy cứu trách nhiệm hình sự là phù hợp.
- [10] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 260, Điều 299, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- 1. Về tội danh:
- - Tuyên bố bị cáo Phạm Văn B phạm tội: “Làm giả tài liệu của tổ chức”.
- - Tuyên bố bị cáo Trần Văn H2 phạm tội: “Sử dụng tài liệu giả của tổ chức".
- 2. Về hình phạt:
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Phạm Văn B 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày 04/10/2024.
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Trần Văn H2 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Văn H2 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị án Trần Văn H2 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp hình phạt của Bản án mới theo quy định.
Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 163/2024/HSST-LCCT ngày 11/11/2024 đối với bị cáo Trần Văn H2 kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- 3. Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.
- 4. Biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Phạm Văn B nộp 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) thu lợi bất chính để tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
- 5. Về án phí: Căn cứ vào khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Các bị cáo Phạm Văn B, Trần Văn H2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- 5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Xuân |
8
Bản án số 304/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (làm giả tài liệu của tổ chức và sử dụng tài liệu giả của tổ chức)
- Số bản án: 304/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Làm giả tài liệu của tổ chức và Sử dụng tài liệu giả của tổ chức)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo hạm Văn B và Trần Văn H phạm tội "Làm giả tài liệu của tổ chức, sử dụng tài liệu giả của tổ chức"
