TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 304/2024/HS-ST Ngày 28/10/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Mừng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nhung; Bà Nguyễn Thị Kim Loan
Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Mạnh Hùng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lệ X - Kiểm sát viên
Trong ngày 28 tháng 10 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 288/2024/TLHS-ST, ngày 10/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 301/2024/QĐXXST-HS, ngày 16/10/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Thọ T; sinh ngày 07 tháng 4 năm 1989 tại Thái Bình. Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lái xe. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, Chính quyền, Đoàn thể): Không. Con ông Bùi Thọ V, sinh năm 1954. Con bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1962. Vợ: Vi Thị T1, sinh năm 1984, có 01 con. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án số 403/2013/HSST, ngày 11/12/2013 Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ra trại ngày 20/02/2014. Chấp hành xong án phí ngày 08/5/2014.
Tại Bản án số 59/2019/HSST, ngày 16/9/2019 Toà án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Chấp hành xong án phạt tù ngày 04/02/2021, án phí ngày 30/10/2019.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).
Bị hại: Hoàng Thị T2 (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Nông Văn T3, sinh năm 1987 (có mặt)
Địa chỉ: Xóm T, xã T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1962 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình
- Chị Đặng Thị S, sinh năm 1991 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình
Người làm chứng:
- Chị Vũ Thị D, sinh năm 1987 (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Anh T4, sinh năm 1973 (vắng mặt)
- Ông Dương Ngọc T5, sinh năm 1961 (vắng mặt)
- Ông Nông Hồng D1, sinh năm 1958 (có mặt)
- Anh Hoàng Mạnh C, sinh năm 1988 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Xóm T, xã T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên
- Anh Hoàng Xuân Q1, sinh năm 1975 (vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm C, xã T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên tòa thì nội dung vụ án như sau: Khoảng giữa tháng 5 năm 2024, Bùi Thọ T (có giấy phép lái xe hạng B2, thời hạn đến ngày 05/3/2026) làm lái xe cho Công ty TNHH T7 có địa chỉ tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình do chị Đặng Thị S (SN: 1991; HKTT: Thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình) làm chủ. Công việc của T là chở hàng hóa đi giao cho các đại lý ở khu vực tỉnh Thái Nguyên. Thư được chị S giao cho chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu KIA Frontiner, BKS 17C-172.04, làm phương tiện để chở hàng.
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 14/5/2024, theo công việc được giao hàng ngày, T đến nhận xe tại bãi xe của công ty tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Sau đó, T một mình điều khiển xe ô tô tải BKS 17C-172.04 đi giao hàng trên địa bàn thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Khoảng 15 giờ 10 phút cùng ngày, T một mình điều khiển xe ô tô tải BKS 17C-172.04 đi trên đường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, hướng đi từ ngã ba D đi thành phố S. Khi đi đến đoạn đường thuộc xóm T, xã T, thành phố T, do T buồn ngủ nên xe ô tô do T điều khiển đã lao sang phần đường bên trái khiến phần đầu xe bên trái do T điều khiển đâm va vào xe đạp thô sơ do bà Hoàng Thị T2 (sinh năm: 1959, HKTT: Xóm T, xã T, thành phố T) đang dắt bộ đi hướng ngược chiều ở sát lề đường bên phải theo hướng đi của bà T2. Sau khi tai nạn xảy ra, quần chúng nhân dân chứng kiến sự việc chặn xe Thư lại để giải quyết. Tuy nhiên, do lo sợ phải chịu trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự nên T lợi dụng lúc quần chúng nhân dân đang sơ cứu, đưa bà T2 đến Bệnh viện, không chú ý đến Thư nên T đã tự ý điều khiển xe tô tải BKS: 17C-172.04 nhanh chóng rời khỏi hiện trường để trốn tránh trách nhiệm. Sau khi rời khỏi hiện trường, T đi giao hàng ở thành phố P và huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình di chuyển giao hàng T nhận được điện thoại của Cơ quan điều tra Công an thành phố T và Công ty TNHH T7 yêu cầu T đưa phương tiện quay lại hiện trường để giải quyết theo quy định. Tuy nhiên T không chấp hành mà tiếp tục lái xe về kho xe tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Khoảng 23 giờ 30 cùng ngày, T điều khiển xe mô tô cá nhân của T về gia đình tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Đến khoảng 02 giờ ngày 15/5/2024, T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đến triệu tập để làm việc.
* Hậu quả:
- Bà Hoàng Thị T2 bị đa chấn thương, tử vong cùng ngày tại Bệnh viện. Tại Kết luận giám định tử thi số 657/KLGĐTT-KTHS ngày 31/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:
1. Các kết quả chính: Hai lỗ mũi có nhiều dịch chảy ra. Hố mắt trái sưng nề, bầm tím. Sưng nề toàn bộ vùng chẩm. Từ mào chậu đến mông trái có vết xây sát, mài trượt da. Mạn sườn trái bị bầm tím rải rác. Tràn khí dưới da vùng ngực, bụng. Gãy nhiều xương sườn hai bên. Dập các tạng trong lồng ngực. Phổi phải và trái bị dập rách rải rác. Khoảng ngực có nhiều máu không đông.
2. Kết luận: Hoàng Thị T2, sinh năm 1959, nơi đăng ký HKTT: xã T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên bị đa chấn thương: Chấn thương sọ não; chấn thương ngực kín, gãy nhiều xương sườn 2 bên, dập rách 2 phổi, chảy tụ máu trong khoang ngực gây suy hô hấp cấp, suy tuần hoàn cấp dẫn đến chết.
- Xe đạp thô sơ và xe ô tô tải BKS 17C-172.04 bị hư hỏng. Tại Kết luận định giá tài sản số 94/KL-HĐ ĐGTS ngày 14/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự thành phố T, kết luận: Giá trị thiệt hại của 01 xe ô tô tải nhãn hiệu KIA FRONTIER, màu sơn trắng, BKS 17C-172.04, đã qua sử dụng, bị hư hỏng là 2.000.000 đồng. Giá trị thiệt hại của 01 xe đạp thô sơ đã qua sử dụng bị hư hỏng là 300.000 đồng.
Tại Phiếu kết quả xét nghiệm sinh hóa nước tiểu ngày 15/5/2024 xác định Bùi Thọ T dương tính với ma túy Morphin.
Quá trình điều tra đã thu giữ 01 đoạn video do camera an ninh của gia đình chị Vũ Thị D, sinh năm 1987, HKTT: Xóm T, xã T, thành phố T cung cấp. Tại biên bản làm việc kiểm tra dữ liệu điện tử hồi 13 giờ ngày 15/5/2024 ghi nhận diễn biến vụ tai nạn: Thư xác định người đang dắt xe đạp thô sơ và người điều khiển xe ô tô tải BKS 17C-172.04 là đúng diễn biến vụ tai nạn.
Căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản xác định hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, kết luận giám định tử thi, biên bản kiểm tra dữ liệu điện tử đã đủ căn cứ để xác định nguyên nhân của vụ tai nạn giao thông là do Bùi Thọ T không tuân thủ nghiêm Luật Giao thông đường bộ, điều khiển xe ô tô tải BKS: 17C-172.04 tham gia giao thông không chú ý quan sát, không đi đúng phần đường quy định dẫn đến phần đầu bên trái xe ô tô tải do T điều khiển đã đâm va vào xe đạp thô sơ do bà T2 đang dắt bộ đi hướng ngược chiều ở sát lề đường bên phải theo hướng đi của bà T2. Hậu quả khiến bà Hoàng Thị T2 tử vong, xe ô tô tải BKS 17C-172.04 bị thiệt hại là 2.000.000 đồng, xe đạp thô sơ bị thiệt hại là 300.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Bùi Thọ T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường; Biên bản xác định hiện trường; Sơ đồ hiện trường; Biên bản khám nghiệm phương tiện; Biên bản kiểm tra dữ liệu điện tử; Kết luận giám định tử thi; Kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án: 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA Frontiner, màu trắng, BKS: 17C-172.04, xe đã qua sử dụng bị hư hỏng; 01 giấy chứng nhận kiểm định số: DA 4393384, biển số đăng ký: 17C-172.04; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô số: C124CB0049958, biển kiểm soát: 17C-172.04; 01 xe đạp thô sơ đã qua sử dụng, bị hư hỏng. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Đặng Thị S và anh Nông Văn T3 là người đại diện hợp pháp của bà T2 quản lý sử dụng. 01 USB nhãn hiệu Kingston, màu bạc, dung lượng 2GB đã qua sử dụng, ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông được niêm phong chuyển kèm theo hồ sơ vụ án. 01 giấy phép lái xe hạng B2, số: [...], mang tên Bùi Thọ T đang được lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm: 1962, HKTT: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (là mẹ đẻ của Bùi Thọ T) tự thoả thuận bồi thường cho gia đình bà Hoàng Thị T2 số tiền 100.000.000 đồng là tiền mai táng phí, bồi thường tổn thất về tinh thần. Gia đình bà T2 không yêu cầu đề nghị gì thêm. Chị Đặng Thị S không yêu cầu T phải bồi thường gì.
Tại Cáo trạng số 293/CT-VKSTPTN, ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Bùi Thọ T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b, c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề cụ thể như sau:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Thọ T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
2. Về hình phạt chính: Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Thọ Thư T6 4 năm đến 5 năm tù.
3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
4. Về vật chứng: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Lưu theo hồ sơ vụ án 01 USB nhãn hiệu Kingston, màu bạc, dung lượng 2GB đã qua sử dụng, ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông. Hoàn trả bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng B2, số: [...], mang tên Bùi Thọ T.
5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Trong phần tranh luận, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận. Bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Bị cáo nói lời sau xin lỗi gia đình bị hại, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
[2]. Về căn cứ buộc tội: Theo kết quả điều tra và tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 14/5/2024, Bùi Thọ T (có giấy phép lái xe hạng B2, có giá trị đến ngày 05/3/2026) một mình điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu KIA Frontiner, BKS 17C-172.04, tham gia giao thông trên đường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, hướng đi từ ngã ba D đi thành phố S trong tình trạng có sử dụng chất ma túy. Khi T điều khiển xe ô tô đi đến đoạn đường thuộc xóm T, xã T, thành phố T, T không chú ý quan sát, không đi đúng phần đường quy định dẫn đến phần đầu bên trái xe ô tô tải do T điều khiển đã đâm va vào xe đạp thô sơ do bà T2 đang dắt bộ đi hướng ngược chiều ở sát lề đường bên phải theo hướng đi của bà T2. Hậu quả làm bà T2 tử vong, xe ô tô tải BKS 17C-172.04 bị thiệt hại là 2.000.000 đồng, xe đạp thô sơ bị thiệt hại là 300.000 đồng. Phần dân sự đến nay đã giải quyết xong.
Hành vi của Bùi Thọ T đã vi phạm khoản 7, 17, 18 Điều 8, khoản 1 Điều 9 và điểm a, b khoản 1 Điều 38 Luật Giao thông đường bộ.
Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm
7. Điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà trong cơ thể có chất ma túy.
17. Bỏ trốn sau khi gây tai nạn để trốn tránh trách nhiệm.
18. Khi có điều kiện mà cố ý không cứu giúp người bị tai nạn giao thông.
Điều 9. Quy tắc chung
1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định...
Điều 38. Trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi xảy ra tai nạn giao thông.
1. Người điều khiển phương tiện và những người liên quan trực tiếp đến vụ tai nạn có trách nhiệm sau đây;
a) Dừng ngay phương tiện; giữ nguyên hiện trường; cấp cứu người bị nạn và phải có mặt khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu;
b) Ở lại nơi xảy ra tai nạn cho đến khi người của cơ quan công an đến, trừ trường hợp người điều khiển phương tiện cũng bị thương phải đưa đi cấp cứu hoặc phải đưa người bị nạn đi cấp cứu hoặc vì lý do bị đe dọa đến tính mạng, nhưng phải đến trình báo ngay với cơ quan công an nơi gần nhất;
Hành vi nêu trên của Bùi Thọ T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật được quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
b) Trong tình trạng...có sử dụng chất ma tuý...
c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm...”
[3]. Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, trật tự công cộng mà còn gây nguy hiểm cho tính mạng, tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ vì vậy cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự.
[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
- Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả” và “Thành khẩn khai báo ăn năn hối cải” quy định điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Xét nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị Toà án xử phạt tù về tội Trộm cắp tài sản, Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tuy nhiên bị cáo không biết lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện cho bản thân.
[5]. Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thì thấy cần xử phạt tù và buộc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án 4 năm đến 4 năm 6 tháng tù.
[6]. Về phần dân sự: Bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu gì về phần dân sự. Chị S cũng không có yêu cầu gì về phần dân sự, do đó về phần dân sự trong vụ án này Hội đồng xét xử không xem xét.
[7]. Về vật chứng của vụ án:
- 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA Frontiner, màu trắng, BKS: 17C-172.04, xe đã qua sử dụng bị hư hỏng; 01 giấy chứng nhận kiểm định số: DA 4393384, biển số đăng ký: 17C-172.04; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô số: C124CB0049958, biển kiểm soát: 17C-172.04; 01 xe đạp thô sơ đã qua sử dụng, bị hư hỏng. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Đặng Thị S và anh Nông Văn T3 là người đại diện hợp pháp của bà T2 quản lý sử dụng theo quy định của pháp luật là có căn cứ.
- Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án 01 USB nhãn hiệu Kingston, màu bạc, dung lượng 2GB đã qua sử dụng, ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông.
- 01 giấy phép lái xe hạng B2, số: [...], mang tên Bùi Thọ T, cần hoàn trả lại cho bị cáo T là phù hợp.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định nộp ngân sách Nhà nước.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Thọ T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Bùi Thọ T 4 (bốn) năm 3 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 16/5/2024.
3. Về tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.
4. Về vật chứng: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Lưu theo hồ sơ vụ án 01 USB nhãn hiệu Kingston, màu bạc, dung lượng 2GB đã qua sử dụng, ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông.
- Hoàn trả cho bị cáo Bùi Thọ T 01 giấy phép lái xe hạng B2, số: [...], mang tên Bùi Thọ T.
(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại Quyết định chuyển vật chứng số 221/QĐ-VKSTPTN ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên).
5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Bùi Thọ T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Xuân Mừng |
Bản án số 304/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 304/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông
