TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 304/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 28-10-2024
V/v Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Xuân Lộc.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Bê
Bà Nguyễn Thị Phú
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang không tham gia phiên toà.
Ngày 28 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 236/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 237/2024/QĐXX-ST ngày 08/10/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1943 (vắng mặt)
Nơi cư trú: phòng A, Seong Dong – gu Seoul City, Hàn Quốc. - Ông Nguyễn Văn A ủy quyền cho anh Vy Thanh C, sinh năm 1993; Nơi thường trú: khu A, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn giao nhận tài liệu với Tòa án. Văn bản ủy quyền ngày 11/9/2024.
- Bị đơn: Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1980 (vắng mặt)
Nơi cư trú: tổ dân phố A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn ông Nguyễn Văn A (đã được hợp pháp hóa lãnh sự) trình bày:
Về hôn nhân: ông và bà H được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn ngày 13/10/2020 tại Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn ông, bà chung sống hòa thuận. Tuy nhiên trong quá trình chung sống, do văn hóa giữa hai đất nước khác nhau và quan điểm sống khác nhau nên ông, bà thường xuyên bất đồng trong quan điểm sống, không dung hòa được. Dù đã cố gắng nhiều lần nhưng ông, bà vẫn không tìm được biện pháp để hàn gắn, níu kéo cuộc sống chung. Đến nay ông, bà thống nhất ly hôn để giải thoát cho nhau. Do đó ông đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết cho ông được ly hôn bà Đỗ Thị H.
Về con chung: ông, bà không có con chung.
Về tài sản, công nợ chung: ông, bà không có công nợ, tài sản chung.
Theo bản tự khai, bị đơn bà Đỗ Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Về quá trình tìm hiểu đi đến hôn nhân, quá trình chung sống, quá trình mâu thuẫn của vợ chồng bà thống nhất và đồng ý với trình bày của ông Nguyễn Văn A. Bà và ông Nguyễn Văn A đã ly thân một thời gian dài. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên bà đồng ý ly hôn ông Nguyễn Văn A. Bà cũng đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Nguyễn Văn A.
Về con chung: ông, bà không có con chung.
Về tài sản, công nợ chung: ông, bà không có công nợ, tài sản chung.
Tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn A đang sinh sống tại Hàn Quốc, bà Đỗ Thị H đang sinh sống tại Việt Nam vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của ông Nguyễn Văn A, bà Đỗ Thị H và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp: ông Nguyễn Văn A khởi kiện xin ly hôn bà H. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết: ông Nguyễn Văn A là nguyên đơn hiện đang sinh sống tại Hàn Quốc, bà H là bị đơn có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Do đó, đây là vụ án có một bên đương sự ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn A, bà H.
[4]. Về việc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang không tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy: Vụ án này Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang không tiến hành thu thập chứng cứ. Do vậy, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang không tham gia phiên tòa là đúng quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[5]. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn A và bà Đỗ Thị H kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 13/10/2020 tại Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang. Do đó, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Ông Nguyễn Văn A khởi kiện xin ly hôn bà H.
Xét yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Văn A với bà Đỗ Thị H, Hội đồng xét xử thấy: Ông Nguyễn Văn A và bà Đỗ Thị H được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện H. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận. Tuy nhiên trong quá trình chung sống, do mâu thuẫn về văn hóa và quan điểm sống nên vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Mặc dù trong thời gian mâu thuẫn đã nhiều lần nói chuyện hàn gắn tình cảm nhưng không được. Đến nay ông, bà đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, không mong muốn chung sống cùng nhau nữa. Do vậy, Hội đồng xác định vợ chồng bà H, ông Nguyễn Văn A không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông Nguyễn Văn A với bà H là hoàn toàn phù hợp với tình trạng hôn nhân thực tế, phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[6]. Về con chung: Do ông Nguyễn Văn A, bà H không có con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[7]. Về tài sản chung, công nợ: Do ông Nguyễn Văn A, bà H không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[8]. Về án phí: Ông Nguyễn Văn A phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
[9]. Về quyền kháng cáo:
Theo Điều 271, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự, ông Nguyễn Văn A đang cư trú tại nước ngoài không có mặt tại phiên tòa có thời hạn kháng cáo bản án là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Theo Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, bà H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có mặt tại Việt Nam có thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 21; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:
- Về hôn nhân: Ông Nguyễn Văn A được ly hôn Bà Đỗ Thị H.
- Về án phí: Ông Nguyễn Văn A phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000078 ngày 07/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận ông Nguyễn Văn A đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án:
Ông Nguyễn Văn A có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Bà Đỗ Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Xuân Lộc |
Bản án số 304/2024/HNGĐ-ST ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn
- Số bản án: 304/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ban an HNGD giua ong Nguyen Van A va ba Do Thi H
