Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY PHƯỚC

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 304/2024/HNGĐ-ST Ngày 23-9-2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tú

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Minh Thâm
  2. Bà Phạm Thị Tuyết Mai.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh, là thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoài – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 163/2024/TLST- HNGĐ, ngày 12 tháng 6 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 153/2024/QĐXX-HNGĐ, ngày 12 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà 946/2024/QÐST-HNGĐ, ngày 13 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 1991; địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: Anh Phùng Kim B, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 03 tháng 6 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

Chị và anh Phùng Kim B có thời gian tự nguyện tìm hiểu nhau khoảng ba tháng, anh chị tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bình Định vào ngày 23/11/2011. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại nhà cha mẹ chồng ở thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; chị làm nông, còn anh B làm thợ hồ. Vợ chồng sống hạnh phúc được vài tháng thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh B không lo làm ăn, ham chơi cờ bạc và ngoại tình, rồi lấy cớ đánh đập chị; mặc dù vợ chồng còn sống chung, nhưng anh B vẫn đưa phụ nữ khác về ngủ trong phòng vợ chồng, khi chị phát hiện thì anh B nói là “Không ở được thì ly hôn, đàn ông phải năm thê bảy thiếp”. Do đó, chị về nhà cha mẹ ruột ở cho đến nay. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay, không còn liên lạc với nhau, ai cũng có cuộc sống riêng và không quan tâm gì đến nhau, mạnh ai nấy sống. Nay tình cảm vợ chồng không còn, nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Thành V, sinh ngày 21/10/2011, hiện cháu V đang ở với chị, sức khỏe cháu bình thường. Khi ly hôn, chị yêu cầu nuôi con chung và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, vợ chồng tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Phùng Kim B đã được Tòa án tống đạt thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt, không cung cấp lời khai và chứng cứ.

* Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát:

Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị: Căn cứ các Điều 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình; chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T; giao 01 con chung Nguyễn Thành V, sinh ngày 21/10/2011 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng; nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung, không yêu cầu, nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết về việc ly hôn và nuôi con. Cho nên, Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định đã thụ lý và đưa ra xét xử vụ án dân sự về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Tại phiên tòa lần hai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn anh Phùng Kim B vắng mặt lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa. Cho nên, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Chị Nguyễn Thị T và anh Phùng Kim B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bình Định vào ngày 23/11/2011, nên hôn nhân giữa chị T và anh B là hôn nhân hợp pháp. Theo như chị T trình bày và các chứng cứ đã cung cấp thì sau khi kết hôn, vợ chồng chị T và anh B sống hạnh phúc được vài tháng thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh B không lo làm ăn, ngoại tình và đánh đập chị T. Mâu thuẫn giữa chị T và anh B không được hàn gắn nên tình cảm không còn và chị T và anh B đã sống ly thân hơn 10 năm, mục đích hôn nhân không đạc được. Về phía anh B, Tòa án đã nhiều lần triệu tập, thông báo nhưng anh B không đến Tòa và cũng không có văn bản thể hiện ý kiến của mình, có ý thức bỏ mặc; làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cho nên, theo khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa chấp nhận cho chị T và anh B được ly hôn.

[4] Chị T và anh B có 01 con chung tên Nguyễn Thành V, sinh ngày 21/10/2011, hiện tại đang ở với chị T; sức khỏe của con bình thường. Chị T có nguyện vọng nuôi con chung. Xét điều kiện của các bên và quyền lợi về mọi mặt của con chung, T1 thấy rằng nên giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con, do các bên không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

[5] Về tài sản chung, do các bên không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm, theo điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị T phải chịu án phí về ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[7] Ý kiến của Kiểm sát viên về giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định nêu trên của Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T. Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Phùng Kim B.
  2. Về nuôi con chung:

    2.1 Giao cháu Nguyễn Thành V, sinh ngày 21/10/2011 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nếu lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

    2.2. Về cấp dưỡng nuôi con: Các bên không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí về ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001701, ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

  4. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phước;
  • - UBND xã Phước Sơn, huyện Tuy Phước;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Cẩm Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 304/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 304/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger