|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 304/2024/HNGĐ-ST Ngày 22 - 8 - 2024 V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Xuân Thường
Ông Trần Ngọc Đăng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 145/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 251/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị D, sinh năm 1989. Hộ khẩu thường trú: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Địa chỉ liên hệ: số A đường H, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1987; Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm D, xã T, huyện T, Nghệ An; Hiện ở nước ngoài; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Trần Thị D trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn Đ kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An vào ngày 27/02/2018. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mẫu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không có tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân, trong cuộc sống xẩy ra nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn. Năm 2020 anh Đ đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, thời gian đầu sang Đài Loan vợ chồng vẫn liên lạc với nhau, sau này do cuộc sống xa cách nên ít liên lạc với nhau, tình cảm vợ chồng phai nhạt dần. Hiện nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn Đ có 01 con chung là cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 02/4/2020. Hiện nay cháu H đang sống cùng với mẹ. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cháu H cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu H đủ 18 tuổi, trưởng thành và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn Đ, do vợ chồng không liên lạc gì với nhau nên chị Trần Thị D không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh Đ ở Đài Loan. Theo chị D trình bày anh Đ vẫn thường xuyên liên lạc về với mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị P; địa chỉ cư trú: xóm D, xã T, huyện T tỉnh Nghệ An và bà P biết địa chỉ cụ thể của anh Đ ở Đài Loan; đề nghị Tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã gửi văn bản cho bà Nguyễn Thị P (là mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn Đ) thông báo về việc Tòa án đang thụ lý, giải quyết vụ án để bà P thông báo cho anh Đ và đề nghị anh Đ nêu ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị D. Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng bao gồm Thông báo về việc thụ lý vụ án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm tại nơi cư trú của anh Đ trước khi đi nước ngoài. Tuy nhiên, anh Đ không có ý kiến gì và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- - Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.
- - Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Trần Thị D và anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 02/4/2020 cho chị D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con: Chị D không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét do nguyên đơn không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án Hôn nhân và Gia đình có đương sự hiện đang ở Đài Loan. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2] Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Văn Đ hiện đang ở Đài Loan, không có địa chỉ cụ thể. Bà Nguyễn Thị P (là mẹ đẻ của anh Đ) đã thông báo cho con trai về việc thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng liên quan theo quy định pháp luật đồng thời yêu cầu bà P cung cấp địa chỉ cụ thể của anh Đ ở Đài Loan nhưng bà P không cung cấp được. Tính đến ngày mở phiên tòa xét xử lần thứ hai, Tòa án không nhận được bất cứ văn bản nào của anh Đ trình bày về yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị D nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết và vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Trần Thị D vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Văn Đ vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa vắng mặt các đương sự.
[3] Xét nội dung vụ án và các ý kiến, yêu cầu của đương sự:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị D và anh Nguyễn Văn Đ kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống chung hạnh phúc một thời gian ngắn thì đã phát sinh mâu thuẫn. Về nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không có tiếng nói chung trong cuộc sống; hôn nhân xẩy ra nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn, anh Đ đang sinh sống làm việc ở tại Đài Loan, chị D ở Việt Nam, hai bên ở cách xa nhau mà không còn liên lạc, quan tâm nhau, tình cảm vợ chồng phai nhạt dần. Nay chị D có nguyện vọng được ly hôn với anh Đ, xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị D và anh Đ không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng. Vì vậy, nếu kéo dài cuộc hôn nhân này thì mục đích hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị D được ly hôn với anh Đ là phù hợp Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[3.2] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 02/4/2020; Hiện nay, cháu H đang ở với chị D và chị D đề nghị được trực tiếp nuôi con chung. Xét thấy, anh Đ hiện đang ở nước ngoài và chưa có ý kiến gì về việc nuôi con nên cần giao cháu H cho chị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con và quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con, chị D chưa yêu cầu và anh Đ cũng chưa có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trần Thị D không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.
[4] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn chị Trần Thị D phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 40, khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị D.
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị D được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ.
- - Về con chung: Giao 01 con chung là cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 02/4/2020 cho chị Trần Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Trần Thị D chưa yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Văn Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.
2. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc chị Trần Thị D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng số tiền tạm ứng đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0012788 ngày 16 tháng 4 năm 2024.
3. Chị Trần Thị D có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án; anh Nguyễn Văn Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Mỹ Hải |
Bản án số 304/2024/HNGĐ-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 304/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình Trần Thị D- Nguyễn Văn Đ
