|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 304/2024/HNGĐ-ST
Ngày 17 - 7 - 2024
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Huỳnh Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hồ Quang Minh.
Bà Lưu Xông Pha.
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thêu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 209/2024/TLST-HNGĐ ngày 03/4/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 229/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/5/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Bùi Văn M, sinh năm 1980.
- Bị đơn: Bà Lê Trúc L, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Nguyên đơn có đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt không rõ lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 29/01/2024 và lời trình bày của nguyên đơn có tại hồ sơ, thể hiện: Vào năm 2006 ông M và bà L tự nguyện sống chung với nhau, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã T vào ngày 04/5/2006 (Giấy chứng nhận kết hôn số: 55/2006). Quá trình chung sống vợ chồng có 2 người con chung tên Bùi Khánh B, sinh 21/9/2007 và Bùi Băng B, sinh 11/7/2009 (các con hiện bà L đang nuôi dạy). Tài sản chung tự thoả thuận và nợ chung không có. Nguyên nhân mâu thuẫn ông M xác định giữa vợ chồng bất đồng quan điểm sống, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng không sống chung đã hơn 07 năm.
Ông M yêu cầu ly hôn với bà L. Về con chung đồng ý giao 02 con chung cho bà L nuôi dạy, ông M tự nguyện cấp dưỡng cho con mỗi cháu mỗi tháng 1.000.000 đồng. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu xem xét giải quyết.
· Đối với bị đơn: Tòa án đã triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và hai lần để xét xử nhưng đều vắng mặt không rõ lý do, nên không ghi nhận được ý kiến. Đồng thời, quá trình giải quyết vụ án bị đơn cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì phản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Từ những nội dung vụ án thể hiện;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét về quyền khởi kiện, quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn thực hiện quyền khởi kiện bị đơn về việc yêu cầu ly hôn, nuôi con và bị đơn có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết vụ án dân sự “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).
[2] Xét về thủ tục: Nguyên đơn có đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và bị đơn đã được triệu tập đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 BLTTDS, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[3] Xét yêu cầu và ý kiến của đương sự:
[3.1] Về yêu cầu ly hôn:
[3.1.1] Mối quan hệ hôn nhân giữa ông M và bà L được xác lập trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên mối quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
[3.1.2] Xét thấy trong cuộc sống hôn nhân ông M và bà L không thực hiện tốt việc bình đẳng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, mà lại làm cho mối quan hệ hôn nhân lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc và trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã triệu tập các bên 02 lần để tham gia hoà giải, nhưng bà L đều không đến và ông M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thể hiện ý chí cương quyết ly hôn với bà L, nên có căn cứ xác định được ông M và bà L không còn quan tâm gì đối với mối quan hệ hôn nhân này và giữa đôi bên đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng dẫn đến các hệ lụy nêu trên, nếu tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân về sau thì sẽ không đảm bảo hạnh phúc và trái với các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình hiện nay, nên cần chấp nhận cho ông M được ly hôn với bà L là phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình (LHNGĐ) và khoản 2, 3 Điều 4 Nghị quyết số: 01/2014/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình (Nghị quyết 01). Giấy chứng nhận kết hôn số: 55/2006 ngày 04/5/2006 của UBND xã T hết hiệu lực kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
[3.2] Về con chung:
[3.2.1] Về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn: Quá trình giải quyết vụ án không ghi nhận được ý kiến của cháu Khánh B và cháu Băng B, Hội đồng xét xử xét thấy các cháu đang được bà L nuôi dạy và sau khi ly hôn ông M cũng thống nhất giao các cháu cho bà L tiếp tục nuôi dạy. Do đó, cần tiếp tục giao cháu Khánh B và cháu Băng B cho bà L trực tiếp nuôi dạy là phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Ông M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; ông M có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống với bà L; nếu ông M lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà L có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của pháp luật.
[3.2.2] Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Theo quy định của pháp luật thì cha, mẹ không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Hội đồng xét xử xét thấy mức cấp dưỡng một tháng không được thấp hơn một nữa mức lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng cư trú theo quy định khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số: 01; căn cứ mục 3 phụ lục kèm theo và Điều 3 Nghị định số: 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 về quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động (Nghị định số: 74) thì mức lương tối thiểu vùng tại huyện T nơi ông M cư trú là 3.860.000 đồng. Do đó, cần buộc ông M phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Khánh B và cháu Băng B mỗi cháu mỗi tháng là 1.930.000 đồng và phương thức cấp dưỡng hàng tháng kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng được chấm dứt theo định quy định là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 82, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 LHNGĐ.
[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Ông M cho rằng tài sản chung tự thoả thuận và nợ chung không có, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà L về vấn đề tài sản chung và nợ chung, nên không có căn cứ làm rõ phần tài sản chung và nợ chung giữa ông M và bà L. Do đó, cần tách phần tài sản chung và nợ chung ra, trường hợp sau này giữa các đương sự có tranh chấp và có yêu cầu thì sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác.
[4] Xét về án phí dân sự sơ thẩm: Ông M phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng, ông M phải chịu án phí cấp dưỡng cho con là 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (Nghị quyết số: 326). Ông M đã dự nộp tiền tạm ứng án phí trước tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được chuyển thu đối trừ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 của BLTTDS; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 LHNGĐ; mục 3 phụ lục kèm theo và Điều 3 Nghị định số: 64; khoản 2 Điều 7, khoản 3 Điều 11 Nghị quyết 01; Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326.
- Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Văn M.
- - Về hôn nhân: Cho ông Bùi Văn M ly hôn với bà Lê Trúc L.
- - Về con chung:
- + Về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn: Giao cho bà Lê Trúc L trực tiếp nuôi dạy cháu Bùi Khánh B, sinh 21/9/2007 và cháu Bùi Băng B, sinh 11/7/2009. Ông Bùi Văn M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, ông M có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống với bà L; nếu ông M lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà L có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của pháp luật.
- + Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Buộc ông Bùi Văn M phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Bùi Khánh B, sinh 21/9/2007 và cháu Bùi Băng B, sinh 11/7/2009 mỗi cháu mỗi tháng 1.930.000 đồng cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng được chấm dứt theo quy định của pháp luật. Phương thức cấp dưỡng: 01 tháng cấp dưỡng 01 lần, thời gian cấp dưỡng tính kể từ ngày 17/7/2024. Khi có lý do chính đáng và có yêu cầu thì mức cấp dưỡng có thể thay đổi.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Bùi Văn M phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng và án phí cấp dưỡng cho con là 300.000 đồng, ông Bùi Văn M đã dự nộp tạm ứng án phí trước 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004795 ngày 03/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu đối trừ, số tiền án phí ông Bùi Văn M phải nộp tiếp là 300.000 đồng (chưa nộp).
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Giấy chứng nhận kết hôn số: 55/2006 ngày 04/5/2006 của UBND xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau hết hiệu lực kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bà Lê Trúc L có đơn yêu cầu thi hành án mà ông Bùi Văn M chậm thực hiện nghĩa vụ đối với khoản tiền cấp dưỡng nói trên, thì ông Bùi Văn M còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với khoản tiền cấp dưỡng nói trên tương ứng với thời gian chậm cấp dưỡng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trương Huỳnh Hải |
Bản án số 304/2024/HNGĐ-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 304/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
