Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 304/2024/DS-PT

Ngày: 15/4/2024

Về việc: “Tranh chấp hợp đồng

dịch vụ pháp lý"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh Châu

Các thẩm phán: Bà Phạm Thị Kim

Ông Lê Ngọc Tường

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Anh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm – Kiểm sát viên.

Ngày 15/4/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 244/2024/DSPT ngày 06 tháng 3 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 208/2023/DS-ST ngày 06/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo, kháng nghị, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 854/2024/QĐPT-DS ngày 25 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Văn phòng L1;

    Địa chỉ trụ sở: Số C (Lầu E) L, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;

    Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Song T, sinh năm 1959; (có mặt)

    Chức vụ: Trưởng Văn phòng;

    Địa chỉ: Số C B, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

  2. Bị đơn: Công ty TNHH I;

    Địa chỉ trụ sở: khu dân cư Đ, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh;

    Đại diện theo pháp luật: Ông HWANG BYUNG LAK, sinh năm 1950;

    Chức vụ: Tổng Giám Đốc.

    Đại diện theo ủy quyền:

    • - Ông Nguyễn Phương V, sinh năm 1981; (có mặt)
    • Địa chỉ: Số F, ngõ B V, phường N, quận C, thành phố Hà Nội;
    • - Bà Phan Thị H, sinh năm 1986; (vắng mặt)
    • - Bà Vũ Thị Phương D, sinh năm 1989; (có mặt)
    • Cùng địa chỉ: Lô B Khu C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người kháng cáo: Văn phòng Luật sư Tùng L.

Người kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại Đơn khởi kiện đề ngày 10/01/2024 các bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Văn phòng L1 có ông Lê Song T trình bày:

Ngày 03/12/2016 nguyên đơn Văn phòng L1 ký Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 01.09.2016/HĐ.PL-IDE với bị đơn Công ty TNHH I (viết tắt là IDE) nội dung:

+ Văn phòng Luật sư Tùng L sẽ tư vấn pháp luật và hướng dẫn làm thủ tục tham gia tố tụng, sửa đổi, bổ sung, thay đổi yêu cầu khởi kiện, ghi chép, sao chụp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, tiến hành các thủ tục đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng; tiến hành thu thập, tập hợp, thuyết minh các chứng cứ; tham gia tố tụng với tư cách là luật sư (phải là luật sư Lê Song T) cùng với IDE tham gia các phiên họp do Tòa án tiến hành, tham gia hỏi tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh; thực hiện quyền kháng cáo, tham gia cùng với IDE trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án phúc thẩm (phải là Luật sư Lê Song T); cùng với IDE tham gia quá trình thi hành án cho đến khi IDE nhận được toàn bộ số tiền theo bản án có hiệu lực pháp luật đối với vụ án tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng giữa IDE là nguyên đơn với Tổng công ty X – CTCP (sau đây gọi tắt là Tổng công ty X), tại Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Về phần thù lao: IDE đồng ý trả cho Văn phòng L1 theo tỷ lệ phần trăm giá trị các yêu cầu của IDE được Tòa án chấp nhận tại Bản án/ Quyết định có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp kết quả giải quyết là bản án có hiệu lực pháp luật thì mức thù lao sẽ là 10% (mười phần trăm) tính theo tỷ lệ phần trăm các giá trị yêu cầu khởi kiện của IDE được Tòa án chấp nhận, thù lao nêu trên đã bao gồm thuế giá trị gia tăng.

+ Về phương thức thanh toán thù lao: IDE thanh toán cho Văn phòng L1 số tiền 50.000.000 đồng sau khi hai bên ký kết hợp đồng và tiến hành làm thủ tục tham gia tố tụng với tư cách là Luật sư; sau khi có hiệu lực pháp luật hai bên sẽ kết toán hợp đồng, ngay khi IDE nhận được toàn bộ số tiền theo Bản án thì IDE sẽ thanh toán toàn bộ số tiền thù lao còn lại.

- Tại Bản án phúc thẩm số 50/2020/KDTM-PT ngày 17/01/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giải quyết tranh chấp vê hợp đồng thi công giữa IDE và Tổng công ty X, đã quyết định như sau:

“1.2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Tổng công ty X - CTCP phải có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TNHH I số tiền tạm ứng đã nhận còn lại là 7.604.115.664 đồng và tiền phạt do chậm tiến độ là 4.752.572.290 đồng, tổng cộng là 12.356.687.954 đồng.

1.3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đòi Tổng công ty X - CTCP phải trả tiền lãi 4.397.460.087 đồng.

1.4. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, buộc Công ty TNHH I phải có trách nhiệm thanh toán cho Tổng công ty X – CTCP số tiền thi công còn nợ là 12.329.633.270 đồng và số tiền lãi chậm trả là 1.734.590.125 đồng, tổng cộng là 14.064.223.395 đồng.”

- Văn phòng L1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: buộc IDE phải trả cho Văn phòng L1 số tiền thù lao là 1.235.668.795 đồng tương đương với 10% số tiền yêu cầu của IDE được chấp nhận tại Bản án phúc thẩm nêu trên trừ đi số tiền đã thanh toán 220.000.000 triệu đồng, số tiền còn lại phải thanh toán là 1.015.668.795 đồng.

* Bị đơn Công ty TNHH I trình bày:

Khi ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý, ngoài công việc đại diện Công ty I tham gia tố tụng, Hợp đồng còn quy định ông T hay Văn phòng Luật sư Tùng L có nghĩa vụ “Tư vấn pháp luật” cho Công ty I. Việc tư vấn pháp luật phải tư vấn đầy đủ, toàn diện quyền và nghĩa vụ của ty IDE và Tổng Công ty X theo Hợp đồng thi công số IDE/HĐ10-019 ngày 18/11/2010.

Văn phòng Luật sư Tùng L phải có nghĩa vụ nghiên cứu các chứng cứ, xem xét quá trình thực hiện Hợp đồng thi công giữa IDE và Tổng Công ty X để tư vấn cho IDE những nội dung: IDE đã thực hiện việc tạm ứng, thanh toán bao nhiêu cho Tổng Công ty X, thanh toán có đúng tiến độ hay không, nếu vi phạm thì bị xử lý thế nào; Tổng Công ty X đã nhận tiền tạm ứng từ Công ty I là bao nhiêu, so với phần nghĩa vụ thi công đã thực hiện thì thế nào khối lượng đã thi công trên thực tế là bao nhiêu để tính ra phần nghĩa vụ mà Công ty I phải thanh toán; phạt vi phạm trên khối lượng thi công chậm tiến độ là bao nhiêu mà Công ty I được nhận so với lãi chậm thanh toán tiền thi công là bao nhiêu. Từ những nghĩa vụ phải nghiên cứu đánh giá chứng cứ hồ sơ khởi kiện nêu trên, Văn phòng Luật sư Tùng L buộc phải có nghĩa vụ tư vấn cho IDE về cơ sở pháp lý đối với yêu cầu phản tố của Tổng Công ty X vì thực tế, Công ty I còn đang thiếu nợ Tổng Công ty X và khả năng phải chịu tiền phạt chậm thanh toán. Từ đó để cân nhắc đối với yêu cầu khởi kiện. IDE có nên tiếp tục thực hiện việc khởi kiện hay không hay thực hiện việc hòa giải với Tổng Công ty X để giảm bớt thiệt hại cho IDE. Bởi trước khi IDE khởi kiện, Tổng Công ty X biết việc mình thi công chậm tiến độ nên đã bỏ mặc hợp đồng và quá trình Tòa án giải quyết cũng thể hiện thiện chí hòa giải với IDE.

Tuy nhiên, ông Văn p Luật sư T lâm đã tư vấn để IDE tin tưởng là mình sẽ thắng kiện và soạn thảo Hợp đồng dịch vụ pháp lý với cách tính thù lao Luật sư căn cứ vào yêu cầu khởi kiện sẽ được Tòa án chấp nhận để tính tỷ lệ hưởng thù lao. Riêng trường hợp thù lao được tính phần trăm trên yêu cầu khởi kiện được Tòa án chấp nhận như ông T đã lựa chọn trong Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 01.09.2016/HĐ.PL- IDE ngày 03/10/2016 được hiểu mặc định là thân chủ phải được hưởng lợi ích từ bản án, phải thắng kiện (được thi hành án).

Mục đích khi khởi kiện của Công ty I là khởi kiện để buộc Tổng Công ty X phải thanh toán số tiền đã tạm ứng và tiền phạt, theo đó IDE phải được nhận về một số tiền lớn hơn nghĩa vụ của IDE phải chịu đối với Tổng công ty X chứ không phải IDE đi khởi kiện mà phải chịu nghĩa vụ trả tiền phạt cho Tổng Công ty X. Vì vậy, mục đích của Công ty I không đạt được. Đề nghị Tòa án nhân dân quận Bình Tân áp dụng Điều 126. Giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn “không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch” và Điều 130 Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần của Bộ luật dân sự để tuyên Điều 2 của Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 01.09.2016/HĐ.PL-IDE là vô hiệu.

Văn phòng Luật sư Tùng L đã đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không có lý do chính đáng. Theo quy định tại Điều 4 Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 01.09.2016/HĐ.PL-IDE quy định: Thời gian thực hiện Hợp đồng “...cho đến khi Bản án hoặc Quyết định của Tòa án được thi hành xong..”. Nhưng thực tế Văn phòng Luật sư Tùng L khởi kiện tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân và được Tòa án nhân dân quận Bình Tân thụ lý vụ án số 265/2020/TLST-DS ngày 11/6/2020; ngày 07/7/2020 Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Tân ra quyết định thi hành án số 3281 Quyết định thi hành án theo yêu cầu; ngày 27/7/2020 Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Tân có Công văn 2369/CV-CCTHADS Yêu cầu IDE phải thi hành án. Đề nghị Tòa án áp dụng Điều 428, Điều 520 Bộ luật dân sự xác định lỗi của Văn phòng L1 khi đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không có lý do chính đáng, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Văn phòng Luật sư Tùng L phải trả lại số thù lao đã nhận là 220.000.000 đồng.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 208/2023/DS-ST ngày 06/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Văn phòng Luật sư Tùng Lâm buộc Công ty TNHH I phải trả tiền thù lao Luật sư là 1.015.668.795 (một tỷ không trăm mươi lăm triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn bảy trăm chín mươi lăm) đồng.

  2. Đình chỉ yêu cầu phản tố của Công ty TNHH I buộc Văn phòng Luật sư Tùng L phải trả lại số thù lao đã nhận là 220.000.000 (hai trăm hai mươi triệu) đồng.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm :

    - Bị đơn Văn phòng Luật sư Tùng L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 42.470.064 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 21.235.032 (hai mươi mốt triệu, hai trăm ba mươi lăm nghìn không trăm ba mươi hai) đồng theo Biên lai số 0061229 ngày 10/6/2020 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Văn phòng Luật sư Tùng L còn phải nộp 21.235.032 (hai mươi mốt triệu, hai trăm ba mươi lăm nghìn không trăm ba mươi hai) đồng.

    - Bị đơn Công ty TNHH I được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 11.000.000 (mười một triệu) đồng theo Biên lai thu số 0062687 ngày 11/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.

  4. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

* Ngày 14/6/2023 nguyên đơn Văn phòng Luật sư Tùng L có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

*Ngày 21/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐ-VKS-DS, đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị rút toàn bộ Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐ-VKS-DS ngày 21/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân.

- Các bên đương sự tự nguyện thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, cụ thể như sau: Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 208/2023/DS-ST ngày 06/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý”, cụ thể:

Nguyên đơn Văn phòng Luật sư Tùng L đồng ý rút đơn khởi kiện và đơn kháng cáo để nguyên đơn không có quyền khởi kiện lại vụ án (đã làm đơn tại phiên tòa để lưu hồ sơ) nhưng đề nghị Tòa án không đình chỉ giải quyết vụ án án vì thuận lợi cho việc ghi nhận số tiền hỗ trợ các đương sự hòa giải thành nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận hòa giải của các bên đương sự về việc nguyên đơn đồng ý giữ nguyên bản án sơ thẩm, còn phía bị đơn Công ty TNHH I sẽ hỗ trợ số tiền chi phí thù lao Luật sư cho Văn phòng L1 theo Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 01.09.2016/HĐ.PL- IDE ngày 03/10/2016 là 100.000.000 đồng, thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền hoặc hai bên tự giao nhận. Nguyên đơn tự nguyện chịu án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Các đương sự đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các bên tại phiên tòa phúc thẩm vào bản án dân sự phúc thẩm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử tuyên bố nghị án, Thẩm phán chủ tọa, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Những người tham gia tố tụng đã được thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị rút toàn bộ Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐ-VKS-DS ngày 21/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm về phần bị đơn đồng ý hỗ trợ số tiền chi phí thù lao Luật sư cho Văn phòng L1 theo Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 01.09.2016/HĐ.PL-IDE ngày 03/10/2016 là 100.000.000 đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa;

- Về thời hạn kháng cáo:

[1] Ngày 06/6/2023, Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm. Ngày 14/6/2023 nguyên đơn nguyên đơn Văn phòng Luật sư Tùng L có đơn kháng cáo. Ngày 21/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐ-VKS-DS. Căn cứ khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đơn kháng cáo của bị đơn làm trong thời hạn luật định, là hợp lệ được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

- Về thủ tục tố tụng:

[2] Đại diện hợp pháp của nguyên đơn và đại diện hợp pháp của bị đơn đều có mặt tại phiên tòa phúc thẩm, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm các bên đương sự tự nguyện hòa giải và đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm như sau:

  • Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Văn phòng Luật sư Tùng Lâm buộc Công ty TNHH I phải trả tiền thù lao Luật sư là 1.015.668.795 (một tỷ không trăm mươi lăm triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn bảy trăm chín mươi lăm) đồng.
  • Đình chỉ yêu cầu phản tố của Công ty TNHH I buộc Văn phòng Luật sư Tùng L phải trả lại số thù lao đã nhận là 220.000.000 (hai trăm hai mươi triệu) đồng.
  • Bị đơn Công ty TNHH I sẽ hỗ trợ cho nguyên đơn Văn phòng Luật sư Tùng L số tiền 100.000.000 đồng là chi phí thù lao theo Hợp đồng dịch vụ pháp lý do Văn phòng Luật sư Tùng L đã ký kết với Công ty TNHH I số 01.09.2016/HĐ.PL-IDE ngày 03/10/2016, thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền hoặc hai bên tự giao nhận.
  • Nguyên đơn Văn phòng Luật sư Tùng L phải chịu phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo luật định.

[4] Xét thấy sự thỏa thuận hòa giải của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không trái quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận và ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các bên tại phiên tòa phúc thẩm. Do đó, sửa bản án sơ thẩm theo hướng công nhận sự tự nguyện thỏa thuận nói trên của các đương sự.

[5] Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị rút toàn bộ Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐ-VKS-DS ngày 21/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân; đồng thời đề nghị sửa bản án sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự là có cơ sở, được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[6] Án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên nguyên đơn Văn phòng Luật sư Tùng L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

  1. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các bên đương sự tại phiên tòa phúc thẩm; Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 208/2023/DS-ST ngày 06/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh về việc: “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý” giữa nguyên đơn Văn phòng Luật sư Tùng L và bị đơn Công ty TNHH I, cụ thể:

    1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Văn phòng Luật sư Tùng Lâm buộc Công ty TNHH I phải trả tiền thù lao Luật sư là 1.015.668.795 (một tỷ không trăm mươi lăm triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn bảy trăm chín mươi lăm) đồng

    2. Đình chỉ yêu cầu phản tố của Công ty TNHH I buộc Văn phòng Luật sư Tùng L phải trả lại số thù lao đã nhận là 220.000.000 (hai trăm hai mươi triệu) đồng.

    3. Bị dơn Công ty TNHH I hỗ trợ cho nguyên đơn Văn phòng Luật sư Tùng L số tiền 100.000.000 đồng là chi phí thù lao theo Hợp đồng dịch vụ pháp lý do Văn phòng Luật sư Tùng L đã ký kết với Công ty TNHH I số 01.09.2016/HĐ.PL-IDE ngày 03/10/2016, thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền hoặc hai bên tự giao nhận.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm :

    • - Bị đơn Văn phòng Luật sư Tùng L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 42.470.064 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 21.235.032 (hai mươi mốt triệu, hai trăm ba mươi lăm nghìn không trăm ba mươi hai) đồng theo Biên lai số 0061229 ngày 10/6/2020 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Văn phòng Luật sư Tùng L còn phải nộp 21.235.032 (hai mươi mốt triệu, hai trăm ba mươi lăm nghìn không trăm ba mươi hai) đồng.
    • - Bị đơn Công ty TNHH I được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 11.000.000 (mười một triệu) đồng theo Biên lai thu số 0062687 ngày 11/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn Văn phòng L1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011634 ngày 28/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân Tối cao;
  • - TAND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - TAND quận Bình Tân;
  • - Chi cục THADS quận Bình Tân;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án (20).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Quỳnh Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 304/2024/DS-PT ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý

  • Số bản án: 304/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các bên đương sự tại phiên tòa phúc thẩm; Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 208/2023/DS-ST ngày 06/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh về việc: “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger