Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số 304/2024/HS-PT

Ngày 15/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Nam

Các Thẩm phán:Ông Điều Văn Hằng

Ông Phạm Văn Lợi

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Cảnh Duy, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Bà Nguyễn Thị Thu Trang, Kiểm sát viên cao cấp;

Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 1335/2023/TLPT-HS ngày 13/11/2023 do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 79/2023/HS-ST ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

Bị cáo có kháng cáo: Trần Đức L, sinh ngày 25/9/2005; Giới tính: Nam; Nơi sinh: huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi đăng ký HKTT và hiện ở: Khu D, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp trước khi phạm tội: Học sinh; Bố đẻ: Trần Ngọc A, đã chết; Mẹ đẻ: Bùi Thị Kim T, sinh năm 1984 (đã bỏ đi khỏi địa phương, hiện không rõ ở đâu, Long ở với ông bà ngoại từ khi 20 tháng tuổi); Anh chị em ruột: Không; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp Giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi cho người đại diện giám sát tại xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Có mặt tại phiên tòa).

Ngoài ra còn có các bị cáo khác, người bị hại và người có quyền nghĩa vụ liên quan do không kháng cáo nên Tòa án không triệu tập đến tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 30/12/2022, tại quán trà sữa 1995s, địa chỉ: phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, Trần Minh T1, sinh năm 2004, ở xã V, thị xã P, là nhân viên của quán 1995s đi giao hàng về. T1 gặp nhóm của Phùng Phương M, sinh năm 2005; Nguyễn Tuấn A1, sinh năm 2004, ở khu B, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Trần Đức L, sinh năm 2005, Đỗ Tiến N, sinh năm 2005, ở xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Ngô Tuấn K, sinh năm 2005; Lê Minh H, sinh năm 2005, cùng ở xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, cùng một số người khác đang uống nước tại quán. M là người yêu cũ của một người tên D, là bạn T1, khi M chào T1 thì T1 nói “tao gọi D ra bây giờ”; lúc đó, giữa Tuấn A1 và T1 có nói qua lại, xích mích với nhau.

Do sợ bị Tuấn A1 cùng nhóm bạn đánh, nên T1 gọi điện thoại qua ứng dụng Messenger của Facebook cho Lê Văn K1, sinh năm 1999, ở xã V, thị xã P, với nội dung “anh K1 ơi em nhờ tí, anh bảo đội ra quán 1995s em nhờ xíu được không, có đứa nó gây sự với em”. Sau đó, K1 cùng nhóm người đều ở thị xã P, tỉnh Phú Thọ, gồm: Nguyễn Văn N1, sinh năm 1995, ở phường T, thị xã P; Lê Đức L1, sinh năm 2002, ở xã V, thị xã P; Hồ Trung K2, sinh năm 2001, ở phường H, thị xã P; Nguyễn Văn N2, sinh năm 2001, ở xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Phí Đình T2, sinh năm 2001 và Phí Đình M1, sinh năm 2004, cùng ở xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ cùng nhau đến quán 1995s. K1 cầm theo chiếc điếu cày, K1 sử dụng để hút thuốc lào.

Thấy T1 gọi điện, nghĩ T1 gọi điện để đánh mình nên Nguyễn Tuấn A1 gọi điện qua ứng dụng Messenger của Facebook cho Trần Huỳnh Đ, sinh năm 2005, ở xã Đ, huyện T với nội dung là có người muốn đánh Tuấn A1 tại quán 1995s, Đ nói “đợi tý”, Đ hiểu ý Tuấn A1 gọi ra đánh nhau nên gọi điện thoại rủ Vũ Ngọc N3, sinh năm 2004, ở xã Đ, huyện T đi. Đ điều khiển xe mô tô Honda wave, biển kiểm soát 19K1- 357.59 đến đón Vũ Ngọc N3. Vũ Ngọc N3 đang ở đám cưới nhà anh Nguyễn Văn N4, sinh năm 1976, ở xã Đ, huyện T nên đi vào bếp nhà anh N4 lấy 01 con dao cất vào túi áo khoác đang mặc rồi cùng đi với Đ.

Khoảng 22 giờ 45 phút cùng ngày, nhóm bạn của Nguyễn Tuấn A1 có một số người về. Tuấn A1 thấy K1 đi xe mô tô đến vỉa hè trước quán 1995s, nên lấy xe của L để đi tìm Đ. Khi đi đến đoạn đường gần nhà nghỉ B, thuộc xã T, thị xã P, tỉnh Phú Thọ thì gặp Đ chở Vũ Ngọc N3. Tuấn A1 nói: “Có thằng cầm điếu cày đánh tôi, bọn nó vẫn đang ở quán 1995s”. Trên đường đi, Tuấn A1 nhặt 02 viên gạch, loại gạch đất nung ở đường, khi đến cổng bệnh viện Thị xã P, Tuấn A1 đưa Vũ Ngọc N3 01 viên gạch.

Khi Tuấn A1, Đ, Vũ Ngọc N3 đến trước cửa quán A2, thấy K1 cầm điếu cày cùng nhóm bạn của K1 đứng trên vỉa hè thì nhóm của Tuấn A1 dừng xe trên đường. Vũ Ngọc N3 thả viên gạch xuống và Đ nhặt viên gạch lên, Vũ Ngọc N3 tiến tới dùng tay đấm 02 phát về phía K1, trúng 1 phát vào mặt K1. Sau đó, cả hai nhóm lao vào đánh nhau. Lê Đức L1 và Phí Đình T2 dùng tay đấm, T1 dùng mũ bảo hiểm vụt, K1 dùng điếu cày vụt Vũ Ngọc N3 làm điếu cày văng ra phía cửa quán. K1 tiếp tục dùng tay đấm Vũ Ngọc N3. Lê Văn K1, Lê Đức L1, Phí Đình T2, Nguyễn Văn N1, Trần Minh T1, Hồ Trung K2 và một người bạn của Nguyễn Văn N1, lao vào Vũ Ngọc N3, dùng tay đánh liên tiếp vào vùng đầu Vũ Ngọc N3, vừa đánh, vừa dồn Vũ Ngọc N3 về phía đầu xe ô tô, biển kiểm soát 29A-670.82 đang đỗ trước cửa nhà giáp bên trái quán 1995s, đẩy Vũ Ngọc N3 lên capo xe. Hồ Trung K2 không đánh trúng Vũ Ngọc N3 nên chạy vòng ra phía sau ô tô, đón đầu đánh Vũ Ngọc N3.

Lúc này, Vũ Ngọc N3 rút con dao từ trong áo bên trái, chuyển dao từ tay phải sang tay trái, quay người lại vung dao liên tiếp trúng vào cánh tay trái của K1 và cánh tay trái của L1. K2 và bạn của Nguyễn Văn N1 lao từ phía sau vào để đánh Vũ Ngọc N3 nhưng không trúng, K2 túm cổ áo của Vũ Ngọc N3, những người nhóm của K1 quây xung quanh Vũ Ngọc N3. Lúc này, N cầm mũ bảo hiểm đánh vào lưng K2 nên K2 bỏ Vũ Ngọc N3 ra và chạy ra sau xe ô tô, N đứng lại. K1 và L1 bị thương bước lên hè nhà trước đầu xe ô tô. Đ cầm gạch lao vào tấn công Nguyễn Văn N1 và Lê Đức L1, Tuấn A1 cầm gạch ném vào T1 nhưng không trúng, viên gạch rơi xuống vỉa hè. Nguyễn Văn N1 cúi xuống nhặt viên gạch của Tuấn A1 vừa ném lên thì bị Đ cầm viên gạch đập trúng vào trán trái, khiến viên gạch bị rơi xuống, Nguyễn Văn N1 nhặt viên gạch, dồn đuổi ném Đ nhưng không trúng. Nguyễn Văn N1 quay lại vỉa hè lấy điếu cày từ trên tay của Hồ Trung K2, K2 nhặt được điếu cày do K1 làm rơi trong quá trình hai bên đánh nhau. Nguyễn Văn N1 cầm điếu cày xông về phía Vũ Ngọc N3 và vụt điếu cày vào người Vũ Ngọc N3 làm điếu cày văng ra đường. Vũ Ngọc N3 dùng chân đạp Nguyễn Văn N1 ngã ngồi xuống mặt đường. Lúc này, Trần Đức L đứng phía trước đầu của Nguyễn Văn N1 cầm mũ bảo hiểm vụt hai phát trúng vào đầu Nguyễn Văn N1, làm Nguyễn Văn N1 ngã nằm ngửa mặt trên đường thì Vũ Ngọc N3 cầm dao nhọn cúi người đâm một phát trúng vào ngực trái của Nguyễn Văn N1. Thấy Nguyễn Văn N1 bò dậy thì L dùng chân đạp vào lưng khiến Nguyễn Văn N1 lao chúi người về phía trước. Tuấn A1 đứng gần định đánh Nguyễn Văn N1 nhưng N1 vùng chạy vào hè trước cửa quán, Nguyễn Văn N2 cầm điếu cày chạy ra giơ lên dọa Vũ Ngọc N3 và hỗ trợ cho Nguyễn Văn N1. Bạn của Nguyễn Văn N1 chạy vào cửa quán lấy giá để tấm biển “Quý khách vui lòng gọi đồ tại quầy” chạy lại phía Vũ Ngọc N3, Lê Đức L1 cầm viên gạch lao ra nhưng Vũ Ngọc N3 lùi lại nên N2 dừng lại và L1 bỏ viên gạch xuống.

Sau đó, L quay lại nhặt mũ bảo hiểm ném vào xe mô tô Wave màu xanh rồi lên xe Tuấn A1 chở về, còn Đ chở Vũ Ngọc N3 đi về phía huyện T, khi đi đến cầu K thuộc địa phận xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ thì Vũ Ngọc N3 giấu con dao vào bụi cỏ và đi đến nhà nghỉ S1 ở khu E xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Cơ quan điều tra đã thu giữ con dao, hai viên gạch.

Nguyễn Văn N1 chạy lên vỉa hè trước cửa quán thì được nhóm của mình đỡ và đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa thị xã P, trên đường đi Nguyễn Văn N1 đã tử vong.

Quá trình khám nghiệm tử thi Nguyễn Văn N1 xác định tại ngực trái của N1 có 01 vết rách da bờ mép sắc gọn, kích thước 4,2 x 1,4cm, vết thương thấu vào trong lồng ngực gây rách thủng ngang tâm thất trái kích thước 5,6 x 0,7 cm; tại vùng trán bên trái có vết rách da, bờ mép tương đối gọn, xung quanh tụ máu, kích thước 4,5 x 01cm, chiều từ trước ra sau, từ trái qua phải, nền vết thương nham nhở, có cầu nối tổ chức, sâu sát xương; Tại vùng trán bên phải có vết xây xát da kích thước 0,5 x 1,5cm.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định pháp y tử thi; giám định thương tích và cơ chế hình thành thương tích đối với hai vết thương trên vùng trán (phải, trái) và giám định ma túy của tử thi Nguyễn Văn N1, đồng thời trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lê Văn K1, Lê Đức L1 và mẫu máu thu giữ được tại hiện trường, con dao, viên gạch.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 123/KL-KTHS ngày 10/01/2023, Phòng K4 Công an tỉnh P kết luận: “Nguyên nhân chết của Nguyễn Văn N1 là mất máu cấp do vết thương thấu ngực gây rách thủng tim; Cơ chế hình thành vết thương: Vết thương rách thủng da, cơ vùng ngực bên trái là do vật sắc nhọn; Vết thương rách da vùng trán bên trái là do vật tày có cạnh”.

Tại Kết luận giám định số 78/KL-KTHS ngày 13/01/2023 của V Bộ C kết luận: "Không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy trong mẫu nước tiểu ghi thu của tử thi Nguyễn Văn N1 gửi giám định".

Tại Kết luận giám định pháp y tổn hại sức khỏe qua hồ sơ số 01/GĐHSTgT/2003, ngày 08/02/2023 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh P kết luận: “Vết thương vùng trán bên phải là 01%, vết thương vùng trán bên trái là 02%; Cơ chế hình thành vết thương vùng trán bên phải và vết thương vùng trán bên trái do tác động của vật cứng gây nên; Viên gạch, mũ bảo hiểm là vật cứng có thể gây nên vết thương trên; Vết thương vùng trán bên phải và vết thương vùng trán bên trái có khả năng gây chết người không: Trung tâm pháp y không thể xác định được”.

Lê Văn K1, Lê Đức L1 được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa thị xã P, tỉnh Phú Thọ từ ngày 30/12/2022 đến ngày 06/01/2023, ra viện. Hồ sơ Bệnh án của Lê Đức L1 thể hiện 01 vết thương sắc gọn, vùng ngoài mặt cẳng tay trái kích thước 10cm, sâu đứt cơ. Hồ sơ Bệnh án của Lê Văn K1 thể hiện 01 vết thương mặt ngoài cánh tay trái rách da 7cm, chảy máu, chưa rõ độ sâu.

Tại Kết luận giám định số 30 và 31/TgT/2023 ngày 20/02/2023, của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh P kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể vết thương (nay là vết sẹo) ở cánh tay trái của Lê Văn K1 là 02%”; “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể vết thương (nay là vết sẹo) ở cánh tay trái của Lê Đức L1 là 02%".

Cơ quan điều tra đã trưng cầu mẫu máu trên con dao, 2 viên gạch thu giữ được. Tại Kết luận giám định số 122/KL-KTHS ngày 31/01/2023 của V - Bộ C kết luận: “Dấu vết mầu nâu ghi thu tại hiện trường (ký hiệu M1) là máu người và là máu của Nguyễn Văn N1; dấu vết mầu nâu ghi thu tại hiện trường (ký hiệu M3) là máu người và là máu của Lê Văn K1; Trên con dao (ký hiệu M6) gửi giám định có bám dính dấu vết máu người, phân tích gen (AND) thu được kiểu gen (AND) của Nguyễn Văn N1 và Lê Văn K1; Trên viên gạch (ký hiệu M7) và viên gạch (ký hiệu M8) không phát hiện thấy dấu vết máu”.

Hành vi của Vũ Ngọc N3 đã dùng 01 con dao là hung khí nguy hiểm chém vào tay của Lê Đức L1 làm L1 bị tổn thương cơ thể 2%; chém vào tay của Lê Văn K1 làm K1 bị tổn thương cơ thể 2%. Ngày 13/02/2023, Lê Văn K1 và Lê Đức L1 có đơn đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật, Cơ quan điều tra đã tách vụ án và xử lý trong một vụ án khác.

Đối với vết thương của Nguyễn Văn N1, căn cứ vào lời khai của Trần Huỳnh Đ, vào camera thu giữ hình ảnh và đặc điểm của vết thương, kết luận giám định pháp y tử thi xác định được vết thương trên trán trái với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2% là do Trần Huỳnh Đ gây ra, vết thương trên trán phải với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1% do Trần Đức L gây ra. Trần Huỳnh Đ dùng 01 viên gạch, là hung khí nguy hiểm đập vào trán trái của Nguyễn Văn N1, gây tổn thương cơ thể 2%. Ngày 28/3/2023, đại diện gia đình Nguyễn Văn N1 là anh Nguyễn Ngọc Đ1, sinh năm 1980, ở khu T, phường T, thị xã P, tỉnh Phú Thọ có đơn đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật. Do vậy, Trần Huỳnh Đ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi cố ý gây thương tích đối với Nguyễn Văn N1. Cơ quan điều tra đã tách vụ án và xử lý trong cùng vụ Vũ Ngọc N3 cố ý gây thương tích đối với Lê Văn K1 và Lê Đức L1.

Trần Đức L dùng mũ bảo hiểm đập vào đầu Nguyễn Văn N1 khi N1 đang bị Vũ Ngọc N3 đạp làm ngã ngồi, làm Nguyễn Văn N1 ngã ngửa nằm trên mặt đường, dẫn đến Nguyễn Văn N1 trong tình trạng không tự vệ được, tạo điều kiện cho Vũ Ngọc N3 dùng dao đâm một nhát vào ngực trái làm rách thủng tâm thất trái của Nguyễn Văn N1, ngay khi Vũ Ngọc N3 đâm Nguyễn Văn N1, L còn đạp vào người Nguyễn Văn N1 làm N1 chúi người về phía trước dẫn đến N1 tử vong. Hành vi này của Trần Đức L là hành vi giết người với vai trò đồng phạm với Vũ Ngọc N3. Do vậy, Vũ Ngọc N3 và Trần Đức L phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi giết người.

Trần Minh T1, Hồ Trung K2, Lê Văn K1, Lê Đức L1, Vũ Ngọc N3, Nguyễn Tuấn A1, Trần Huỳnh Đ, Trần Đức L, Phí Đình T2 có hành vi dồn duổi, chửi bới, sử dụng hung khí để đánh nhau vào thời gian khoảng 23 giờ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội nên đều phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi gây rối trật tự công cộng.

Đối với hành vi gọi điện thoại và nhờ người đến đánh nhóm của T1, Tuấn A1 không biết là Vũ Ngọc N3 có mang theo dao, không bàn bạc việc đánh nhau và không biết Vũ Ngọc N3 sẽ dùng dao đâm Nguyễn Văn N1, Lê Văn K1 và Lê Đức L1, không biết Trần Huỳnh Đ sử dụng gạch làm tổn thương cơ thể Nguyễn Văn N1 nên Nguyễn Tuấn A1 không phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm với Vũ Ngọc N3, Trần Huỳnh Đ.

Tại Cơ quan điều tra, Vũ Ngọc N3, Trần Đức L, Nguyễn Tuấn A1, Trần Huỳnh Đ, Trần Minh T1, Hồ Trung K2, Phí Đình T2, Lê Văn K1, Lê Đức L1 đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên; khi thực hiện hành vi phạm tội Trần Đức L được 17 năm 3 tháng 5 ngày tuổi, Trần Huỳnh Đ được 17 năm 8 tháng tuổi nên được áp dụng các quy định của pháp luật đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; Trần Đức L có ông nội là Trần Đức T3 được Bộ trưởng Bộ Q tặng Bằng khen, thuộc hộ nghèo; Phí Đình T2 sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã đầu thú tại Cơ quan điều tra, Trần Huỳnh Đ có ông bà nội là Trần Văn Đ2 và Vũ Thị P là dân công hỏa tuyến tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế; Gia đình Vũ Ngọc N3, Trần Đức L đã bồi thường một số tiền cho gia đình Nguyễn Văn N1; Nguyễn Tuấn A1 đã bị kết án về tội gây rối trật tự công cộng theo quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt cao nhất đến 7 năm tù, là tội nghiêm trọng. Mặc dù, Nguyễn Tuấn A1 phạm tội trong thời gian thử thách nhưng tại thời điểm kết án bị can chưa đủ 18 tuổi nên không coi là có án tích.

Về trách nhiệm dân sự:

Gia đình Nguyễn Văn N1 yêu cầu bồi thường theo quy định của pháp luật. Tổng tiền mai táng phí của Nguyễn Văn N1 là 56.320.000 đồng, gia đình Vũ Ngọc N3 đã bồi thường số tiền 20.000.000 đồng, gia đình Trần Đức L đã bồi thường số tiền 3.000.000 đồng.

Đối với yêu cầu Vũ Ngọc N3 bồi thường cho Lê Văn K1 là 10.370.000 đồng; Lê Đức L1 là 11.5550.939 đồng; yêu cầu Trần Huỳnh Đ bồi thường cho Nguyễn Văn N1 được giải quyết trong vụ án tách ra.

Về vật chứng, tài sản thu giữ:

Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 mảnh nhựa kính chắn gió mũ bảo hiểm; 01 mũ bảo hiểm màu đen hãng ROYAL HELMET, phần kính trước bị bung rời khỏi mũ; 01 đoạn ống tre, dạng ống điếu màu nâu, kích thước dài 65cm, đường kính 4cm, 1 đầu đoạn ống tre có 1 lỗ hình tròn đường kính 2,1cm; 01 khung gỗ có gắn biển cao 1,3m, rộng 0,5m, tại 1 mặt có gắn tấm bìa cát tông kích thước 0,6x0,4m, mặt trước có ghi dòng chữ "1995, TEA AND COFFE để phục vụ quý khách hàng được tốt nhất quý khách vui lòng gọi đồ tại quầy, xin lỗi quý khách vì sự bất tiện này"; Chất dịch màu nâu đỏ (giám định hết); 01 con dao dài 29cm, chuôi bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, một lưỡi sắc, mũi dao nhọn, lưỡi có bám dính chất dịch màu nâu; 01 viên gạch nung màu đỏ kích thước 20x0,9cm, một góc bị vỡ rời ra; 01 viên gạch nung màu đỏ kích thước 20x10cm, một góc bị vỡ; Đây đều là công cụ phạm tội và liên quan đến tội phạm thu khi khám nghiệm hiện trường.

Thu giữ khi khám nghiệm tử thi Nguyễn Văn N1: 01 áo màu đen khóa kéo, mặt trước áo cách đường giữa khóa 6cm, cách gấu áo 27cm, bên trái có 1 vết rách bờ mép sắc gọn, kích thước 5cm, vết rách nằm ngang; 01 áo màu đen có cúc bấm có vết rách bờ mép sắc gọn 4cm; 01 áo len dài tay màu nâu có vết rách; 01 áo cộc tay màu đen có vết rách; 01 quần vải bò màu xanh xám; 01 quần lót màu đen; 01 đôi giày màu trắng nâu; 01 đôi tất màu trắng;

Thu dữ liệu camera an ninh của gia đình ông Nguyễn Trung K3, ở khu dân cư N, phường Â, thị xã P, đã sao lưu và sử dụng trong quá trình điều tra. Thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen, lắp sim 0329.017.042 của Lê Văn K1, sử dụng nghe cuộc gọi của Trần Minh T1 bảo đến quán 1995S. Đối với mũ bảo hiểm của Trần Minh T1 sử dụng đánh nhau, trong quá trình đưa Nguyễn Văn N1 đi cấp cứu đã bị rơi nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Tại Bản cáo trạng số: 59/CT-VKS-P2 ngày 15/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã truy tố: Vũ Ngọc N3, Trần Đức L về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự và tội "Gây rối trật tự công cộng" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; Các bị cáo Nguyễn Tuấn A1, Trần Huỳnh Đ, Trần Minh T1, Hồ Trung K2, Phí Đình T2, Lê Văn K1, Lê Đức L1 về tội "Gây rối trật tự công cộng" theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự;

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 79/2023/HS-ST ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã quyết định:

Căn cứ khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự về tội “Giết người” và điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự về tội “Gây rối trật tự công cộng” và Điều 38, Điều 55, khoản 1, khoản 4, khoản 6 Điều 91, khoản 1 Điều 101, Điều 103 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt và tổng hợp hình phạt đối với Trần Đức L.

Tuyên bố bị cáo Trần Đức L phạm tội “Giết người” và tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Đức L 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Giết người” và 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 04 (Năm) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

Căn cứ Điều 584, 585, 586 và Điều 591 của Bộ luật Dân sự.

Xác nhận bị cáo Trần Đức L và gia đình đã tự nguyện nộp số tiền 3.000.000₫ tại Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P được bàn giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 26/6/2023 để bồi thường cho gia đình người bị hại anh Nguyễn Văn N1.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 05/9/2023, bị cáo Trần Đức L có đơn kháng cáo kêu oan.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Đức L giữ nguyên quan điểm kháng cáo kêu oan, thừa nhận khi Nguyễn Văn N1 bị Vũ Ngọc N3 đạp ngã ngồi xuống mặt đường thì L đã dùng mũ bảo hiểm vụt hai cái vào đầu Nguyễn Văn N1, làm Nguyễn Văn N1 ngã nằm ngửa trên mặt đường và Vũ Ngọc N3 cầm dao nhọn cúi người đâm Nguyễn Văn N1; sau đó, thấy Nguyễn Văn N1 bò dậy thì L dùng chân đạp vào lưng khiến Nguyễn Văn N1 lao chúi về phía trước; nhưng L không thừa nhận đồng phạm với Vũ Ngọc N3 về tội giết người.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Ngày 05/9/2023, bị cáo Trần Đức L có đơn kháng cáo là trong thời hạn luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm. Trong quá trình tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm, các Thẩm phán thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa và thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Tại phiên tòa bị cáo Trần Đức L thừa nhận khi Nguyễn Văn N1 bị Vũ Ngọc N3 đạp ngã ngồi xuống mặt đường thì L đã dùng mũ bảo hiểm vụt hai cái vào đầu Nguyễn Văn N1, làm Nguyễn Văn N1 ngã nằm ngửa trên mặt đường, dẫn đến Nguyễn Văn N1 trong tình trạng không tự vệ được, tạo điều kiện cho Vũ Ngọc N3 dùng dao đâm một nhát vào ngực trái làm rách thủng tâm thất trái của Nguyễn Văn N1, khi thấy Nguyễn Văn N1 bò dậy thì L dùng chân đạp vào lưng khiến Nguyễn Văn N1 lao chúi về phía trước dẫn đến N1 tử vong. Hành vi của Trần Đức L có vai trò đồng phạm với Vũ Ngọc N3. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Đức L về tội “Giết người” theo quy định tại Điều 123 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị cáo Vũ Ngọc N3 và Trần Đức L không có mâu thuẫn với bị hại Nguyễn Văn N1. Vũ Ngọc N3 được Trần Huỳnh Đ rủ đi đánh nhau, khi đi Vũ Ngọc N3 đã mang theo dao dài 29 cm với mục đích “cần phải phòng thân nếu có đánh nhau thì sử dụng”; và khi đánh nhau, Vũ Ngọc N3 đã dùng con dao này đâm một nhát vào ngực là vùng trọng yếu trên cơ thể của Nguyễn Văn N1 dẫn đến Nguyễn văn N5 tử vong. Hành vi của bị cáo Vũ Ngọc N3 "có tính chất côn đồ" nên các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Vũ Ngọc N3 và Trần Đức L phạm tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 BLHS là không đúng, lẽ ra phải xét xử bị cáo Vũ Ngọc N3 và Trần Đức L phạm tội “Giết người" theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS mới đúng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 355 và Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Hủy một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 79/2023/HSST ngày 22/8/2023 của TAND tỉnh Phú Thọ để điều tra lại đối với bị cáo Vũ Ngọc N3, Trần Đức L về tội Giết người theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/9/2023, bị cáo Trần Đức L có đơn kháng cáo là trong thời hạn luật định nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét, giải quyết yêu cầu kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

[2.1] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Đức L thừa nhận khi Nguyễn Văn N1 bị Vũ Ngọc N3 đạp ngã ngồi xuống mặt đường thì L đã dùng mũ bảo hiểm vụt hai cái vào đầu Nguyễn Văn N1, làm Nguyễn Văn N1 ngã nằm ngửa trên mặt đường và Vũ Ngọc N3 cầm dao nhọn cúi người đâm Nguyễn Văn N1; sau đó, thấy Nguyễn Văn N1 bò dậy thì L dùng chân đạp vào lưng khiến Nguyễn Văn N1 lao chúi về phía trước; đồng ý với việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và xử phạt bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” chỉ không thừa nhận đồng phạm với bị cáo Vũ Ngọc N3 về tội “Giết người”. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ như biên bản khám nghiệm hiện trường; Bản kết luận giám định pháp y tử thi; Kết luận giám định; Vật chứng đã thu giữ, lời khai của các bị cáo, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ để xác định: Khoảng 23 giờ, ngày 30/12/2022, tại khu vực trước quán A2, thuộc khu dân cư N, phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, do mâu thuẫn giữa Trần Minh T1 và Nguyễn Tuấn A1 nên khi thấy T1 gọi điện, nghĩ T1 gọi điện để đánh mình Nguyễn Tuấn A1 gọi điện qua ứng dụng Messenger của F cho Trần Huỳnh Đ nói là có người muốn đánh Tuấn A1 tại quán 1995s, Đ hiểu ý Tuấn A1 gọi ra đánh nhau nên nói “đợi tý” và gọi điện thoại rủ Vũ Ngọc N3 cùng đi. Đ đi xe mô tô Honda wave, biển kiểm soát 19K1-357.59 đến đón Vũ Ngọc N3 ở đám cưới nhà anh Nguyễn Văn N4; trước khi đi Vũ Ngọc N3 có vào bếp nhà anh N4 lấy 01 con dao cất vào túi áo khoác đang mặc rồi cùng đi với Đ đến quán 1995S, trên đường Đ thì gặp Tuấn A1. Tuấn A1 nói: “Có thằng cầm điếu cày đánh tôi, bọn nó vẫn đang ở quán 1995s” và nhặt 02 viên gạch, Tuấn A1 cầm 01 viên còn 01 viên đưa Vũ Ngọc N3. Đến nơi, thấy nhóm của Trần Minh T1 gồm: Hồ Trung K2, Lê Văn K1, Lê Đức L1, Phí Đình T2 và Nguyễn Văn N1 đang đứng trước cửa quán, Vũ Ngọc N3 tiến tới dùng tay đấm 02 phát về phía Lê Văn K1, trúng 01 phát vào mặt K1. Sau đó cả hai nhóm lao vào đánh nhau, K1 dùng điếu cày vụt Vũ Ngọc N3 làm điếu cày văng ra, rồi tiếp tục dùng tay đấm Vũ Ngọc N3; rồi cả nhóm của K1 lao vào dùng tay đánh liên tiếp vào vùng đầu Vũ Ngọc N3, vừa đánh, vừa dồn Vũ Ngọc N3 về phía đầu xe ô tô, biển kiểm soát 29A-670.82 đang đỗ trước cửa nhà giáp bên trái quán 1995s, đẩy Vũ Ngọc N3 lên capo xe. Hồ Trung K2 không đánh trúng Vũ Ngọc N3 nên chạy vòng ra phía sau ô tô, đón đầu đánh Vũ Ngọc N3. Lúc này Vũ Ngọc N3 rút dao ra và vung dao liên tiếp trúng vào cánh tay trái của K1, L1 và K2; Nguyễn Văn N1 cầm điếu cày xông vào vụt vào người Vũ Ngọc N3 làm điếu cày văng ra đường; Vũ Ngọc N3 dùng chân đạp Nguyễn Văn N1 ngã ngồi xuống mặt đường ngay trước mặt Trần Đức L; Trần Đức L cầm mũ bảo hiểm vụt hai phát trúng vào đầu Nguyễn Văn N1, làm Nguyễn Văn N1 ngã nằm ngửa mặt trên đường thì Vũ Ngọc N3 cầm dao nhọn cúi người đâm một phát trúng vào ngực trái của Nguyễn Văn N1; thấy Nguyễn Văn N1 bò dậy thì L dùng chân đạp vào lưng khiến Nguyễn Văn N1 lao chúi người về phía trước dẫn đến cái chết của Nguyễn Văn N1, Lê Văn K1 và Lê Đức L1 mỗi người bị tổn thương cơ thể là 2%, Trần Huỳnh Đ có hành vi dùng viên gạch là hung khí nguy hiểm đập vào trán bên trái của Nguyễn Văn N1 gây tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Trần Đức L về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.2] Xét kháng cáo của bị cáo Trần Đức L thì thấy: Bị cáo Trần Đức L không bị ai đánh, chủ động nhặn mũ bảo hiểm của ai đó rơi giữa lòng đường, đứng trên vỉa hè chờ, khi thấy Nguyễn Văn N1 bị Vũ Ngọc N3 đạp ngã ngồi trước mặt L thì đã dùng mũ bảo hiểm đập vào đầu Nguyễn Văn N1 làm Nguyễn Văn N1 ngã ngửa nằm trên mặt đường, dẫn đến Nguyễn Văn N1 trong tình trạng không tự vệ được, tạo điều kiện cho Vũ Ngọc N3 lao vào dùng dao đâm một nhát vào ngực trái làm rách thủng tâm thất trái của Nguyễn Văn N1; khi thấy Nguyễn Văn N1 bò dậy, thì L dùng chân đạp vào lưng khiến Nguyễn Văn N1 lao chúi về phía trước và dùng mũ bảo hiểm ném theo Nguyễn Văn N1. Hành vi của bị cáo L tạo điều kiện cho bị cáo Vũ Ngọc N3 thực hiện hành vi của mình, thể hiện ý chí thống nhất giữa các bị cáo trong việc đánh Nguyễn Văn N1, chấp nhận hậu quả xảy ra. Tại phiên tòa ngày 22/02/2024, bị cáo Trần Đức L cũng đã thừa nhận nếu không có việc bị cáo đập mũ bảo hiểm vào đầu Nguyễn Văn N1 thì Nguyễn Văn N1 có thể vùng dậy chạy được và không bị Vũ Ngọc N3 đâm. Tòa án cấp sơ thẩm xác định Trần Đức L là đồng phạm với vai trò giúp sức của Vũ Ngọc N3 và xét xử bị cáo Trần Đức L về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng pháp luật, không oan. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Đức L về vấn đề này.

[2.3] Viện kiểm sát nhân dân cấp cao cho rằng bị cáo Vũ Ngọc N3 và Trần Đức L không có mâu thuẫn với bị hại Nguyễn Văn N1. Vũ Ngọc N3 được Trần Huỳnh Đ rủ đi đánh nhau thì N3 đã mang theo dao nhọn “loại dao bầu chọc tiết lợn” dài 29cm với mục đích “cần phải phòng thân nếu có đánh nhau thì sử dụng”. Quá trình đánh nhau, Vũ Ngọc N3 đã dùng con dao này đâm một nhát vào ngực là vùng trọng yếu trên cơ thể của Nguyễn Văn N1 làm Nguyễn Văn N1 tử vong, để cho rằng hành vi của Vũ Ngọc N3 “Có tính chất côn đồ” nên Vũ Ngọc N3 và Trần Đức L phải bị truy tố, xét xử về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS mới đúng. Xong xem xét diễn biến vụ án thì thấy, bị cáo Vũ Ngọc N3 đến nơi dùng tay không đánh K1 và bị nhóm của K1 dồn đuổi đánh sau đó Vũ Ngọc N3 mới lấy dao khua đuổi gây thương tích cho K1 và L1; khi bị Nguyễn Văn N1 lao vào dùng điếu cày vụt vào người Vũ Ngọc N3 làm điếu cày văng ra thì Vũ Ngọc N3 dùng chân đạp ngã Nguyễn Văn N1; khi thấy Nguyễn Văn N1 bị Trần Đức L dùng mũ bảo hiểm đập vào đầu và nằm ngửa trên đường thì Vũ Ngọc N3 mới cầm dao cúi người đâm một phát vào ngực trái Nguyễn Văn N1. Như vậy, hành vi dùng dao đâm chết Nguyễn Văn N1 của bị cáo Vũ Ngọc N3 chỉ phát sinh sau khi bị cáo Vũ Ngọc N3 bị nhiều người dồn, đuổi đánh và bị chính bị hại Nguyễn Văn N1 dùng điếu cày đập vào người, khi bị hại bị Vũ Ngọc N3 đạp lại ngã ngồi và bị cáo L đập mũ bảo hiểm vào đầu làm bị hại Nguyễn Văn N1 nằm ngửa trên đường thì Vũ Ngọc N3 mới cầm dao cúi người đâm nên không còn nguyên cớ nhỏ nhặt và không có căn cứ xác định hành vi của Vũ Ngọc N3 “Có tính chất côn đồ”. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Vũ Ngọc N3 về tội “Giết người" theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, nên không có căn cứ chấp nhận ý kiến đề nghị của Đ3 điện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội về vấn đề này.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo Trần Đức L; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 79/2023/HS-ST ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, cụ thể:

    Tuyên bố bị cáo Trần Đức L phạm tội “Giết người” và tội “Gây rối trật tự công cộng”;

    Áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38, Điều 55, khoản 1, khoản 4, khoản 6 Điều 91, khoản 1 Điều 101, Điều 103 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Đức L 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giết người" và 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng". Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

  2. Về án phí: Bị cáo Trần Đức L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác cảu bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Lợi

Điều Văn Hằng

Nguyễn Phan Nam

Nơi nhận

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKS ND tỉnh Phú Thọ;
  • - Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Cục THADS tỉnh Phú Thọ;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Các bị cáo (theo địa chỉ);
  • - Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia Bộ Tư pháp;
  • - Lưu HSVA, Phòng HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Phan Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 304/2024/HS-PT ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 304/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: kc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger