Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 304/2024/HS-PT

Ngày: 10 - 7 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Quang;

  • Các Thẩm phán: Ông Trần Nam Phương;

  • Ông Vũ Thế Phương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quang Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 180/2024/HS-PT ngày 03 tháng 5 năm 2024; do có kháng cáo của các bị cáo Lê Vũ Thị Thu H và các bị cáo khác đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 136/2023/HS-ST ngày 21-3-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa;

- Bị cáo có kháng cáo:

  1. Lê Vũ Thị Thu H, sinh năm 1984 tại Đồng Nai; nơi cư trú: Số A, Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 3/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Lê Đình  và bà Vũ Thị L; bị cáo có chồng tên Bùi Xuân T, sinh năm 1980; có 03 con, sinh năm 2003, 2010 và năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt quả tang ngày 05/10/2023 tạm giữ đến ngày 15/10/2023 được tại ngoại (có mặt).

  2. Vũ Minh C, sinh năm 1986 tại Bình Dương; nơi cư trú: Số A, Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Vũ Văn K và bà Nguyễn Thị S; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Thúy H1, sinh năm 1991 (ly hôn năm 2020); có 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt quả tang ngày 05/10/2023 tạm giữ đến ngày 15/10/2023 được tại ngoại (có mặt).

  3. Dương Thị Ngọc T1, sinh năm 1986 tại An Giang; nơi đăng ký thường trú: Ấp M, xã T, huyện T, tỉnh An Giang; nơi ở: Khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Dương Văn B (đã chết) và bà Dương Thị N (đã chết); bị cáo có chồng tên Đặng Hoàng T2, sinh năm 1985; bị can có 01 con sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt quả tang ngày 05/10/2023 tạm giữ đến ngày 15/10/2023; hiện bị cáo đang tại ngoại (có mặt).

  4. Diên Thành C1, sinh năm 1975 tại Kiên Giang; nơi đăng ký thường trú: Ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang; nơi ở trước khi bị bắt: Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: Không biết chữ; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Diên Thành T3 và bà Nguyễn Thị Ú; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị D, sinh năm 1981; có 04 con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 18/9/2020, bị Toà án nhân dân huyện Trảng Bom xử phạt số tiền 20.000.000₫ (hai mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự (Bản án số: 196/2020/HSST); bị bắt ngày 05/10/2023; hiện bị cáo đang bị Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt).

  5. Mạch Hoàng Minh L1, sinh năm 1987 tại Bạc Liêu; nơi đăng ký thường trú: Ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; nơi ở: Tổ A, Khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Mạch Văn Đ và bà Trần Thị H2; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt quả tang ngày 05/10/2023 tạm giữ đến ngày 15/10/2023; hiện bị cáo đang tại ngoại (có mặt).

  6. Lê Thị H3, sinh năm 1982 tại An Giang; tên gọi khác: Không; nơi đăng ký thường trú: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang; nơi ở: Tổ A, Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nữ; tôn giáo: Hòa Hảo; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Lê Văn M (đã chết) và bà Lê Thị C2 (đã chết); bị cáo có chồng tên Trương Văn L2, sinh năm 1982 (đã ly hôn); có 02 con sinh năm 2003 và năm 2005; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt quả tang ngày 05/10/2023 tạm giữ đến ngày 15/10/2023; hiện bị cáo đang tại ngoại (có mặt).

  7. Huỳnh Thị D1, sinh năm 1980 tại Bạc Liêu; nơi đăng ký thường trú: Ấp P, xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu; nơi ở: Tổ A, Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 4/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Huỳnh Văn G (đã chết) và bà Châu Thị K1; bị cáo có chồng tên Đặng Minh H4, sinh năm 1971; có 02 con sinh năm 2000 và 2007; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt quả tang ngày 05/10/2023 tạm giữ đến ngày 15/10/2023; hiện bị cáo đang tại ngoại (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Nội dung chính:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 05/10/2023, tại phòng trọ của Huỳnh Thị Diệu T4 1, Khu phố A, phường T thành phố B, tỉnh Đồng Nai (do ông Nguyễn Quốc P là chủ sở hữu), Huỳnh Thị D1 đã cho Lê Vũ Thị Thu H, Lê Thị H3, Vũ Minh C, Dương Thị Ngọc T1, Mạch Hoàng Minh L1Diên Thành C1 sử dụng làm địa điểm đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài “Xì zách” để thu tiền xâu. D1 cung cấp bài và thoả thuận nếu trong ván bài ai thắng thì nộp tiền xâu cho D1 với số tiền 10.000đ (mười nghìn đồng).

Cách thức đánh bạc như sau: Dụng cụ đánh bạc là 01 bộ bài tây 52 lá có các con bài 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, A (Xì) và 03 con “Tây” (J, Q, K). Người cầm cái chia bài thành nhiều tụ, mỗi tụ 02 lá bài. Các con bài “Tây” được tính là 10 điểm, con bài A được tính là 01 điểm. Tụ có 02 lá bài có 02 con A thì gọi là “Xì bàn”, có 01 con A và 01 con 10 hoặc con “Tây” gọi là “Xì zách”. Tụ chưa đủ 16 điểm thì được rút 01 lá bài trong số lá bài còn lại chưa chia, được rút tối đa là 03 lần. Sau khi rút bài, tụ nào quá 21 điểm thì gọi là “Ngoắc” (không có điểm), tụ nào có 05 lá bài cộng lại không quá 21 điểm thì gọi là “Ngũ linh”. Người chơi sẽ đặt tiền vào mỗi tụ với số tiền từ 30.000đ (ba mươi nghìn đồng) đến 100.000đ (một trăm nghìn đồng). Sau đó, người cầm cái sẽ so sánh thắng thua với các tụ theo thứ tự “Xì bàn” thắng “Xì zách”, “Xì zách” thắng “Ngũ linh”, “Ngũ linh” thắng 21 điểm, điểm lớn thắng điểm nhỏ. Nếu bài của người cầm cái lớn hơn bài tụ thì sẽ thắng được toàn bộ số tiền đặt trên tụ và ngược lại.

Với cách thức đánh bạc như trên, số tiền từng người sử dụng đánh bạc như sau: Lê Vũ Thị Thu H theo và sử dụng 2.920.000đ (hai triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng) để đánh bạc. Quá trình đánh bạc H thắng 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), đóng tiền xâu 20.000đ (hai mươi nghìn đồng). Khi bị bắt, H bị thu giữ trên người số tiền 730.000đ (bảy trăm ba mươi nghìn đồng) và 2.470.000₫ (hai triệu bốn trăm bảy mươi nghìn đồng) dưới chiếu bạc.

Vũ Minh C đem theo và sử dụng 1.710.000đ (một triệu bảy trăm mười nghìn đồng) để đánh bạc. Quá trình đánh bạc C thua 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) và đã nộp tiền xâu 10.000đ (mười nghìn đồng). Khi bị bắt, C bị thu giữ trên người 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) và 800.000₫ (tám trăm nghìn đồng) trên chiếu bạc.

Dương Thị Ngọc T1 đem theo và sử dụng 520.000₫ (năm trăm hai mươi nghìn đồng) để đánh bạc. Quá trình đánh bạc Thơ thắng 630.000đ (sáu trăm ba mươi nghìn đồng), nộp tiền xâu 20.000đ (hai mươi nghìn đồng). Khi bị bắt, T1 bị thu giữ trên người 1.030.000đ (một triệu không trăm ba mươi nghìn đồng) và 100.000đ (một trăm nghìn đồng) dưới chiếu bạc.

Diên Thành C1 đem theo và sử 420.000đ (bốn trăm hai mươi nghìn đồng) để đánh bạc. Quá trình đánh bạc C1 thua 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), nộp tiền xâu 20.000đ (hai mươi nghìn đồng). Khi bị bắt, C1 bị thu giữ dưới chiếu bạc số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng).

Mạch Hoàng Minh L1 đem theo và sử 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) để đánh bạc. Quá trình đánh bạc Lý thua 140.000₫ (một trăm bốn mươi nghìn đồng), nộp tiền xâu 10.000đ (mười nghìn đồng). Khi bị bắt, L1 bị thu giữ trên người 120.000đ (một trăm hai mươi nghìn đồng) và 30.000đ (ba mươi nghìn đồng) dưới chiếu bạc.

Lê Thị H3 đem theo và sử dụng 270.000đ (hai trăm bảy mươi nghìn đồng) để đánh bạc. Quá trình đánh bạc H3 thua 90.000đ (chín mươi nghìn đồng), đã nộp tiền xâu 20.000đ (hai nghìn đồng). Khi bị bắt, H3 bị thu giữ trên người số tiền 60.000₫ (sáu mươi nghìn đồng) và 100.000đ (một trăm nghìn đồng) trên chiếu bạc.

Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, khi Lê Vũ Thị Thu H, Lê Thị H3, Vũ Minh C, Dương Thị Ngọc T1, Mạch Hoàng Minh L1Diên Thành C1 đang thực hiện hành vi đánh bạc thì Công an phường T, thành phố B phát hiện bắt quả tang, thu giữ số tiền 6.140.000đ (sáu triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng) sử dụng đánh bạc.

Vật chứng vụ án: 01 (một) bộ bài tây loại 52 lá sử dụng đánh bạc và số tiền 6.140.000₫ (sáu triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng) gồm:

Thu giữ trên người các đối tượng số tiền 2.540.000đ (hai triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng) cụ thể: Diên Thành Cảnh 300.000đ, Mạch Hoàng Minh L1 1.030.000₫, Dương Thị Ngọc T1 500.000đ, Lê Vũ Thị Thu H 730.000đ, Lê Thị H3 60.000đ, Huỳnh Thị D1 100.000đ và thu giữ trên chiếu bạc 3.600.000₫ (ba triệu sáu trăm nghìn đồng).

2. Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 136/2024/HS-ST ngày 21-3-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã quyết định;

Căn cứ điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 58; khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Thị D1, Lê Vũ Thị Thu H, Lê Thị H3, Vũ Minh C, Dương Thị Ngọc T1, Mạch Hoàng Minh L1 phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Diên Thành C1 phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Lê Vũ Thị Thu H 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo vào Trại giam thi hành án nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/10/2023 đến ngày 15/10/2023.

Xử phạt bị cáo Diên Thành C1 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 05/10/2023.

Xử phạt bị cáo Vũ Minh C 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo vào Trại giam thi hành án nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/10/2023 đến ngày 15/10/2023.

Xử phạt bị cáo Dương Thị Ngọc T1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo vào Trại giam thi hành án nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/10/2023 đến ngày 15/10/2023.

Xử phạt bị cáo Lê Thị H3 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo vào Trại giam thi hành án nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/10/2023 đến ngày 15/10/2023.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị D1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo vào Trại giam thi hành án nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/10/2023 đến ngày 15/10/2023.

Xử phạt bị cáo Mạch Hoàng Minh L1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo vào Trại giam thi hành án nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/10/2023 đến ngày 15/10/2023.

3. Kháng cáo:

Trong thời hạn luật định, các bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc chuyển sang hình phạt khác không phải phạt tù.

4. Quan điểm của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:

Kiểm sát viên đã đánh giá, phát biểu quan điểm xử lý vụ án và đề nghị:

Về tội danh: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng pháp luật.

Về hình phạt: Bị cáo Diên Thành C1 có 01 tiền án về tội “Đánh bạc” nên hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp, có căn cứ không nặng như kháng cáo đã nêu. Các bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào mới nên không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đối với các tài liệu, chứng cứ các bị cáo nộp trước khi mở phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trn cơ sở nội dung vụn, căn cứ vo ếc ti liệu trong hồ sơ vụn ược tranh tụng tại phin tịa, Hội ồng ắt xử nhận ịnh như sau:

[1] Về tố tụng:

Kíng co của ếc bị co trong thời hạn luật ịnh ăn ược xem ắt theo thủ tục pắc thẩm.

[2] Về tội danh:

Căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa; có đủ căn cứ xác định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là đúng quy định.

[3] Về căn cứ quyết định hình phạt và kháng cáo:

3.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Diên T5 Cảnh có 01 tiền án là tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo còn lại không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

3.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tại cấp sơ thẩm: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (trừ bị cáo Diên Thành C1); các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Tại cấp phúc thẩm: Các bị cáo cung cấp đơn xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú; bị cáo H đang trực tiếp nuôi 02 con nhỏ, bị cáo Vũ Minh C đã ly hôn vợ và trực tiếp nuôi con; bị cáo D1 gia đình có công với cách mạng có ông được tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương; bị cáo L1 có bà ngoại được Tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng là tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự áp dụng cho các bị cáo.

3.3. Về kháng cáo và hình phạt:

Các bị cáo Huỳnh Thị D1, Lê Vũ Thị Thu H, Lê Thị H3, Vũ Minh C, Dương Thị Ngọc T1, Mạch Hoàng Minh L1: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; nhân thân không có tiền án, tiền sự, chưa từng bị kết án hoặc xử lý vi phạm hành chính. Số tiền các bị cáo tham gia đánh bạc trong vụ án không lớn, tổng số tiền xác định các bị cáo tham gia đánh bạc 6.140.000 đồng (thấp nhất là 270.000 đồng, cao nhất là 2.920.000 đồng); cùng với tình tiết giảm nhẹ mới các bị cáo nộp tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 35 của Bộ luật Hình sự xử phạt tiền các bị cáo cũng đủ răn đe, giáo dục đối với các bị cáo.

Đối với bị cáo Diên Thành C1: Bị cáo tham gia đánh bạc với số tiền không lớn (420.000 đồng) nhưng nhân thân đã có 01 tiền án nên hình phạt 10 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp; tuy nhiên, xét thấy bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ khi bị bắt khởi tố cho đến khi xét xử phúc thẩm đã gần hết thời hạn phạt tù cũng đủ răn đe, giáo dục (từ ngày 05-10-2023 đến ngày 10-7-2024 là 09 tháng 05 ngày) nên chấp nhận kháng cáo của bị cáo giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, xử bằng thời gian bị cáo đã bị tạm giam và trả tự do tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam, tạm giữ về tội phạm khác, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[4] Vễn phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;p dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 nầy 30 thng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lî sử dụngấn phí v lệ phí Tịấn;

Cc bị co Huỳnh Thị D1, L Vũ Thị Thu H, L Thị H3, Vũ Minh C, Dương Thị Ngọc T1, Mạch Hồng Minh L1Din Tình C1 khơng phải chịứn phí hình sự pắc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm c, đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Huỳnh Thị D1, Lê Vũ Thị Thu H, Lê Thị H3, Vũ Minh C, Dương Thị Ngọc T1, Mạch Hoàng Minh L1Diên Thành C1; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 136/2024/HS-ST ngày 21-3-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa về hình phạt đối với các bị cáo do có tình tiết mới;

1. Về tội danh và hình phạt:

1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố bị cáo Diên Thành C1 phạm tội “Đánh bạc”, xử phạt:

  • - Bị cáo Diên Thành C1 09 (chín) tháng 05 (năm) ngày tù; thời hạn tù bằng thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam (từ ngày 05-10-2023 đến ngày 10-7-2024), bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.

Căn cứ khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về tội phạm khác.

1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Thị D1, Lê Vũ Thị Thu H, Lê Thị H3, Vũ Minh C, Dương Thị Ngọc T1, Mạch Hoàng Minh L1 phạm tội “Đánh bạc”, xử phạt:

  • - Bị cáo Lê Vũ Thị Thu H số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).

  • - Bị cáo Vũ Minh C số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).

  • - Bị cáo Lê Thị H3 số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

  • - Bị cáo Dương Thị Ngọc T1 số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

  • - Bị cáo Mạch Hoàng M1 Lý số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

  • - Bị cáo Huỳnh Thị D1 số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

2. Về án phí:

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Các bị cáo Huỳnh Thị D1, Lê Vũ Thị Thu H, Lê Thị H3, Vũ Minh C, Dương Thị Ngọc T1, Mạch Hoàng Minh L1Diên Thành C1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Quyết định khác của Bản án sơ thẩm về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo (1);
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Tòa án nhân thành phố Biên Hòa (2);
  • - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an thành phố Biên Hòa;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Biên Hòa;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa;
  • - Phòng Hồ sơ - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Quang

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trần Nam Phương - Vũ Thế Phương

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 304/2024/HS-PT ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về đánh bạc (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 304/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc (Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm do có tình tiết mới
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger