Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 304/2024/DS-PT
Ngày 08-8-2024

V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Minh Hoàng

Các Thẩm phán:

Ông Dương Hùng Quang

Ông Nguyễn Thành Lập

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Chọn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Từ Thanh Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 171/2024/TLPT-DS ngày 19 tháng 6 năm 2024 về việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 69/2024/DS-ST ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 166/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Ông Dương Minh T, sinh năm: 1980 (có mặt).
  2. Bà Trần Lệ T1, sinh năm: 1976 (xin vắng mặt).

Cùng địa chỉ cư trú: Số C, đường L, khóm A, phường A, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N - Luật sư Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C (có mặt).

- Bị đơn: Bà Phạm Hải H, sinh năm: 1985. Địa chỉ cư trú: Số B, đường P, khóm H, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trần Thị Mai T2, sinh năm: 1981.
  2. Ông Nguyễn Tấn V, sinh năm: 1979.

Cùng địa chỉ cư trú: Đường N, khóm H, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau

Người đại diện theo ủy quyền của Ông Nguyễn Tấn V và bà Trần Thị Mai T2: Ông Trần Văn N1, sinh năm: 1983. Địa chỉ cư trú: Khóm D, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

  1. Phòng C tỉnh Cà Mau. Địa chỉ: Số I, đường T, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
  2. Ngân hàng TMCP C1 (V1) – Chi nhánh C2. Địa chỉ liên lạc: Số I, L, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
  3. Công ty TNHH T4. Địa chỉ: Số B, đường N, khóm H, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Trần Thị Mai T2, chức vụ: Giám đốc. (vắng mặt).

  1. Ông Trần Văn T3. Địa chỉ cư trú: Đường N, khóm H, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
  2. Bà Võ Thị Bé B. Địa chỉ cư trú: Đường N, khóm H, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
  3. Ông Trần Hoàng H1. Địa chỉ cư trú: Đường N, khóm H, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
  4. Anh Trần Hoàng N2. Địa chỉ cư trú: Đường N, khóm H, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
  5. Công ty TNHH MTV T5. Địa chỉ: Số A, đường số B, khóm C, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tấn V, chức vụ: Giám đốc. (vắng mặt).

- Người kháng cáo: Ông Dương Minh T và bà Trần Lệ T1 là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ông Dương Minh T và bà Trần Lệ T1 trình bày tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

Vào tháng 6 năm 2021, vợ chồng ông, bà với bà Phạm Hải H có tranh chấp hợp đồng vay tài sản, do bà H nợ tiền ông, bà mà không thanh toán, nên ông, bà khởi kiện bà H tại Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau. Quá trình giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng vay nêu trên thì ông, bà có đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, tuy nhiên Tòa án trả lời không áp dụng nhưng chỉ trả lời bằng lời nói, không có văn bản. Tại Bản án số 139/2021/DS-ST ngày 28/6/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tuyên xử: buộc bà H thanh toán cho ông, bà số tiền 330.000.000 đồng. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông, bà yêu cầu thi hành án. Tuy nhiên quá trình xác minh điều kiện thi hành án, Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau thông tin cho biết là bà H xác định không còn khả năng để thi hành án và bà H có tài sản là 01 thửa đất số 251, tờ bản đồ số 40, diện tích 108m², tọa lạc khóm H, phường H, thành phố C, Giấy chứng nhận số CV 809900, số vào sổ 1933 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh C cấp, cấp thay đổi chủ sở hữu, sử dụng ngày 05/6/2020. Nguyên đơn xác định tài sản thửa đất nêu trên là tài sản duy nhất của bà H, bà H không còn tài sản nào khác. Đến ngày 14/4/2021, bà H ký hợp đồng mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Tấn V và bà Trần Thị Mai T2 toàn bộ tài sản nhà đất nêu trên, được Phòng C tỉnh Cà Mau ký, công chứng số 03033, quyển số 04/2021/TP/CC/HĐGD. Xét thấy, Bản án có hiệu lực pháp luật nhưng bà H không tự nguyện thi hành án đối với ông, bà mà chuyển nhượng tài sản cho ông V và bà T2 nhằm mục đích tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thanh toán nợ.

Ông, bà yêu cầu tuyên bố hợp đồng mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/4/2021 giữa bà Phạm Hải H với ông Nguyễn Tấn V, bà Trần Thị Mai T2 đối với nhà và phần đất diện tích 108m², tờ bản đồ 40, thửa số 251, tọa lạc khóm H, phường H, thành phố C và tài sản trên đất là vô hiệu. Ông, bà xin vắng mặt tại phiên tòa.

Bà Phạm Hải H vắng mặt tại phiên tòa và không có ý kiến trình bày.

Ông Nguyễn Tấn V và bà Trần Thị Mai T2 trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Văn N1 là người đại diện hợp pháp của ông V, bà T2 trình bày tại phiên tòa như sau:

Vào ngày 14/4/2021, vợ chồng ông V, bà T2 đã ký hợp đồng mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà H, được Phòng C tỉnh Cà Mau ký công chứng số 03033, quyển số 04/2021/TP/CC/HĐGD, phần đất thửa 251, tờ bản đồ số 40, diện tích 108m², tọa lạc tại khóm H, phường H, thành phố C và căn nhà trên đất, với giá chuyển nhượng là 1.650.000.000 đồng là giá ghi trên hợp đồng, nhưng giá thực tế là 4.000.000.000 đồng, việc giao nhận số tiền 4.000.000.000 đồng có biên nhận nhưng hiện nay đã bị mất nên không cung cấp được. Đối với việc tranh chấp hợp đồng vay giữa ông T, bà T1 với bà H thì ông V và bà T2 không biết. Ông V, bà T2 xác định việc ông V, bà T2 nhận chuyển nhượng tài sản nêu trên từ bà H được thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định pháp luật, ngay tình. Ông V, bà T2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản vào ngày 19/4/2021. Hiện nay ông V, bà T2 đang thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản nêu trên tại Ngân hàng TMCP C1 để vay tiền.

Hiện nay trên đất có 01 căn nhà cấp 3, 01 trệt, 01 lầu và sân thượng, diện tích xây dựng 83,9m², diện tích sàn 194,3m², loại nhà ở riêng lẻ. Trên phần đất hiện nay có ông V, bà T2, cha của bà T2 là ông Trần Văn T3, mẹ của bà T2 là bà Võ Thị Bé B, ông Trần Hoàng H1 và ông Trần Hoàng N2 đang sinh sống. Khoảng tháng 9 năm 2021, ông V, bà T2 có sửa chữa căn nhà trên, chi phí sửa chữa khoảng hơn 300.000.000 đồng, đã cung cấp chứng từ, hóa đơn thanh toán vật tư cho Tòa án.

Ông V và bà T2 không đồng ý toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp Tòa án giải quyết tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu, buộc giao trả nhà đất cho bà H, thì ông V, bà T2 không yêu cầu độc lập giải quyết về hợp đồng chuyển nhượng và xử lý hậu quả hợp đồng chuyển nhượng với bà H trong vụ án này.

Quá trình giải quyết vụ án, bà Phạm Hải H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo cho bà H đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Bà H, bà Võ Thị Bé B, ông Trần Văn T3, ông Trần Hoàng H1, ông Trần Hoàng N2, Công ty TNHH T4, Công ty TNHH MTV T5 được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Thông báo thay đổi ngày mở phiên tòa xét xử và Giấy triệu tập để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng bà H, bà Bé B, ông T3, ông H1, ông N2, Công ty TNHH T4, Công ty TNHH MTV T5 vẫn vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngân hàng TMCP C1 trình bày như sau:

Bất động sản nhà, đất gồm quyền sử dụng đất, diện tích 108m², tại thửa đất số 251, tờ bản đồ số 40 và nhà ở, diện tích sàn 194,3m², tại khóm H, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau, theo Giấy chứng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DB219636, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS02613 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh C cấp ngày 19/4/2021 cho ông Nguyễn Tấn V và bà Trần Thị Mai T2, là tài sản thể chấp để bảo đảm cho toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của Công ty TNHH T4 và Công ty TNHH MTV T5 phát sinh tại V1 chi nhánh C2 theo Hợp đồng thế chấp số 86005000.004/2021/HĐBĐ/NHCT860 ngày 16/6/2021 (công chứng số 04744, quyển số 06/2021/TP/CC-SCC/HĐGD, đăng ký biện pháp bảo đảm ngày 16/6/2021) và Văn bản sửa đổi bổ sung HĐTC số 01-86005000.004/2021/HĐBĐ/NHCT860 ngày 26/6/2023 (công chứng số 2913, quyển số 06/2022/TP/CC-SCC/HĐGD). Bên thế chấp là ông Nguyễn Tấn V và bà Trần Thị Mai T2.

Theo đó, từ ngày ông Nguyễn Tấn V và bà Trần Thị Mai T2 được cập nhật chủ quyền (ngày 19/4/2021), ông V và bà T2 có tất cả các quyền của người sử dụng đất hợp pháp, trong đó có quyền thế chấp tài sản. Hợp đồng thế chấp số 86005000.004/2021/HĐBĐ/NHCT860 ngày 16/6/2021 (và Văn bản sửa đổi bổ sung HĐTC số 01-86005000.004/2021/HĐBĐ/NHCT860 ngày 26/6/2023) đã được công chứng, đăng ký biện pháp bảo đảm, có giá trị pháp lý và hiệu lực đối kháng với bên thứ ba, các bên có nghĩa vụ tôn trọng và tuân thủ; là bên nhận bảo đảm hợp pháp, quyền và lợi ích của V1 được pháp luật bảo hộ.

Bất kỳ hành vi, giao dịch nào đã phát sinh (nếu có, liên quan đến tài sản nêu trên) trước khi ông V và bà T2 được Nhà nước cấp chủ quyền, do các cá nhân nào tham gia thì họ phải tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình với bên mà mình đã giao dịch, với Nhà nước, với các bên thứ ba khác về tính hợp pháp, hợp lệ của các hành vi, giao dịch và mọi hậu quả pháp lý phát sinh. Là bên thứ ba ngay tình, V2 không biết, không tham gia, không là bên phải chịu trách nhiệm, hậu quả bởi hành vi của chủ thể khác.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 69/2024/DS-ST ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau đã quyết định:

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dương Minh T và bà Trần Lệ T1 về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 03033, quyển số 04/2021/TP/CC/HĐGD đối với phần đất thửa 251, tờ bản đồ số 40, diện tích 108m², tọa lạc tại khóm H, phường H, thành phố C và căn nhà trên đất giữa bà Phạm Hải H với ông Nguyễn Tấn V và bà Trần Thị Mai T2 là vô hiệu.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, lãi suất do chậm thi hành, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 06 tháng 5 năm 2024 nguyên đơn là ông Dương Minh T và bà Trần Lệ T1 có đơn kháng cáo với nội dung: Kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 69/2024/DS-ST ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn là ông Dương Minh T và bà Trần Lệ T1, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 69/2024/DS-ST ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Xét kháng cáo của nguyên đơn là ông Dương Minh T và bà Trần Lệ T1, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Ông Dương Minh T và bà Trần Lệ T1 kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm và yêu cầu xem xét sửa bản án sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với các lý do: Bà Phạm Hải H chuyển nhượng nhà đất cho ông Nguyễn Tấn V và bà Trần Thị Mai T2 là với mục đích tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thanh toán nợ với nguyên đơn. Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau đã thụ lý vụ án tranh chấp hợp đồng vay vào ngày 04/3/2021 và có thông báo thụ lý vụ án ngày 08/3/2021, nhưng ngày 14/4/2021 bà H lại thực hiện việc chuyển nhượng cho ông V và bà T2. Tại thời điểm chuyển nhượng bà H đã biết được việc ông T, bà T1 khởi kiện đòi với khoản tiền vay 300.000.000 đồng, đồng thời khi nhận chuyển nhượng ông V, bà T2 cũng không tìm hiểu thông tin về thửa đất, cũng như thông tin việc bà H có nợ người khác. Ngoài ra, các bên chỉ ghi giá chuyển nhượng là 1.650.000.000 đồng, nhưng giá trị thực tế đến 4.000.000.000 đồng, đây cũng là việc gian dối trong giao kết hợp đồng. Sau khi nhận tiền chuyển nhượng phía bà H không thanh toán cho ông T và bà T1. Qua xác minh của Cơ quan thi hành án thì ngoài tài sản này bà H không còn tài sản nào khác.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy nội dung kháng cáo của nguyên đơn là ông Dương Minh T và bà Trần Lệ T1 không có cơ sở chấp nhận bởi lẽ:

Nguyên đơn cho rằng Tòa án có thông báo thụ lý vụ án ngày 08/3/2021, nhưng ngày 14/4/2021 bà H lại thực hiện việc chuyển nhượng cho ông V và bà T2 là có tính tẩu tán tài sản và trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Thấy rằng bà H có nghĩa vụ thanh toán cho ông T, bà T1 theo quyết định tại Bản án số 139/2021/DS-ST ngày 28/6/2021. Đến ngày 10/9/2021, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau ban hành Quyết định số 2675/QĐ-CCTHADS về việc thi hành án theo yêu cầu của ông T, bà T1. Bất động sản nhà, đất nêu trên của bà H đã được bà H chuyển nhượng cho ông V, bà T2 vào ngày 14/4/2021 là trước ngày bà H có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với ông T, bà T1 theo các quyết định có hiệu lực pháp luật của các Cơ quan có thẩm quyền.

Bà H là chủ sở hữu đối với bất động sản nêu trên nên có tất cả các quyền của người sử dụng đất hợp pháp. Tại thời điểm các bên xác lập, thực hiện giao dịch chuyển nhượng, đối tượng chuyển nhượng không bị áp dụng biện pháp ngăn chặn giao dịch, nội dung và hình thức của Hợp đồng mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/4/2021 là phù hợp quy định pháp luật về điều kiện của giao dịch dân sự có hiệu lực nên có giá trị pháp lý.

Như vậy giao dịch giữa ông V và bà T2 với bà H ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 03033 được chứng nhận ngày 14/4/2021 là đúng quy định, giao dịch chuyển nhượng trước thời điểm Bản án số 139/2021/DS-ST ngày 28/6/2021 có hiệu lực pháp luật. Khi nhận chuyển nhượng phía ông V, bà T2 ngay tình, khách quan, không có lỗi. Mặt khác, tại thời điểm chuyển nhượng bà H đang thế chấp tài sản tại Ngân hàng Đ và đến hạn thanh toán, nên trường hợp phải thanh toán thì tài sản này ưu tiên thanh toán cho Ngân hàng, chứ không phải ông T, bà T1. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông V, bà T2 đã được cấp Giấy chứng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở cấp ngày 19/4/2021.

Hợp đồng chuyển nhượng số 03033 ngày 14/4/2021 được công chứng hợp pháp trên tinh thần thỏa thuận giữa các bên trước khi có Bản án số 139/2021/DS-ST ngày 28/6/2021 có hiệu lực pháp luật buộc bà H có nghĩa vụ phải thanh toán, thi hành án đối với ông T, bà T1. Xét về điều kiện giao kết hợp đồng là phù hợp theo quy định tại Điều 117 của Bộ luật dân sự do vậy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên không thuộc trường hợp nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án đối với nguyên đơn.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn là người kháng cáo nhưng không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ gì mới ngoài các tài liệu, chứng cứ đã được cấp sơ thẩm xem xét.

[4] Từ những phân tích trên, bản án sơ thẩm tuyên xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật. Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Cần giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 69/2024/DS-ST ngày 17/4/2024 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau là phù hợp.

[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau là phù hợp nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là ông Dương Minh T và bà Trần Lệ T1.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 69/2024/DS-ST ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dương Minh T và bà Trần Lệ T1, về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 03033, quyển số 04/2021/TP/CC/HĐGD đối với phần đất thửa 251, tờ bản đồ số 40, diện tích 108m², tọa lạc tại khóm H, phường H, thành phố C và căn nhà trên đất giữa bà Phạm Hải H với ông Nguyễn Tấn V và bà Trần Thị Mai T2 là vô hiệu.
  2. Về chi phí đo đạc, thẩm định giá: Số tiền 3.000.000 đồng, ông T, bà T1 phải chịu, đã nộp xong.
  3. Về án phí:

    Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Dương Minh T và bà Trần Lệ T1 phải nộp 300.000 đồng. Ngày 06/10/2022, nguyên đơn đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002073 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, được đối trừ chuyển thu nộp Ngân sách Nhà nước. Bị đơn không phải chịu án phí.

    Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Dương Minh T và bà Trần Lệ T1 mỗi người phải nộp là 300.000 đồng. Ngày 07 tháng 5 năm 2024 ông T, bà T1 mỗi người đã dự nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng tại các biên lai thu số 008587 và 008588 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được chuyển thu.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau;
  • - Chi cục THADS thành phố Cà Mau;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Châu Minh Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 304/2024/DS-PT ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 304/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger