Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 304/2025/LĐ-ST

Ngày: 19–6 - 2025

V/v: “Tranh chấp về hợp

đồng lao động”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thiệu Văn Kết Em.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Lê Vân;
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Thu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tường Vi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 185/2025/TLST-LĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025 về việc: “Tranh chấp về hợp đồng lao động”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 262/2025/QĐXXST-LĐ ngày 14 tháng 05 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 93/2025/QĐ-HPT ngày 22/5/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Đoàn Dư Đ, sinh năm 1987, số CMND/CCCD: [...]/ [...]; nơi cư trú: Ấp R, xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Bị đơn: Công ty TNHH G1; địa chỉ: Khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Người đại diện hợp pháp: Ông ERMANNO G, sinh năm 1948; chức vụ: Chủ tịch – là người đại diện theo pháp luật. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Đoàn Dương C, sinh năm 1990; địa chỉ: ấp R, xx Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  • - Bảo hiểm xã hội thành phố T; địa chỉ: Đường N, khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn – ông Đoàn Dư Đ trình bày:

Do có nhu cầu rút bảo hiểm nên ông Đoàn Dư Đ có đến liên hệ với Bảo hiểm xã hội thành phố T, tỉnh Bình Dương để rút bảo hiểm theo quy định và ông Đoàn Dư Đ được Bảo hiểm xã hội thành phố T, tỉnh Bình Dương thông báo thời điểm từ tháng 04 năm 2011 đến tháng 03 năm 2012 ông có ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty TNHH G1 có thực hiện đóng bảo hiểm lao động cho ông Đoàn Dư Đ vào thời gian trên.

Tuy nhiên, trên thực tế khoảng thời điểm nêu trên ông Đoàn Dư Đ đang làm việc cho Công ty TNHH A nên cùng một khoảng thời gian ông được đóng bảo hiểm xã hội tại hai Công ty. Do đó, đến nay ông không thể thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm xã hội theo đúng quy định được.

Do thời gian nêu trên ông Đoàn Dư Đ có cho ông Đoàn Dương C mượn giấy chứng minh nhân dân của ông (Đoàn Dư Đ), để ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH G1 và tham gia bảo hiểm xã hội với tên của ông Đoàn Dư Đ từ tháng 04 năm 2011 đến tháng 03 năm 2012, nhưng trên thực tế người có tên Đoàn Dương C là người ký kết hợp đồng và trực tiếp làm việc tại Công ty TNHH G1. Do thời điểm nêu trên, ông Đoàn Dương C không có giấy tờ tùy thân nên mới mượn chứng minh của ông Đoàn Dư Đ để ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH G1.

Nhận thấy, việc ký kết hợp đồng lao động giữa ông Đoàn Dương C và Công ty TNHH G1 là sai quy định, đã vi phạm nguyên tắc trung thực, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông Đoàn Dư Đ.

Do đó ông Đoàn Dư Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên Hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động có tên Đoàn Dư Đ (do Đoàn Dương C là người ký kết) với người sử dụng lao động là Công ty TNHH G1 trong khoảng thời gian từ tháng 04 năm 2011 đến tháng 03 năm 2012 là vô hiệu toàn bộ. Ông Đ không có yêu cầu Tòa án giải quyết gì về hậu quả của hợp đồng vô hiệu và tự nguyện chịu mọi chi phí tố tụng đồng thời có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Tài liệu chứng cứ kèm theo hồ sơ gồm có: Thẻ bảo hiểm y tế (pho to), Quyết định thôi việc (pho to); Căn cước công dân (bản sao); Sổ bảo hiểm (bản photo).

Bị đơn Công ty TNHH G1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại các Điều 177; Điều 208; Điều 220; Điều 227 và Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, Công ty TNHH G1 đều vắng mặt không lý do.

Trong quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Đoàn Dương C trình bày:

Vào năm 2011 ông Đoàn Dương C có mượn hồ sơ của ông Đoàn Dư Đ để ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH G1 từ tháng 04 năm 2011 đến tháng 03 năm 2012, nhưng trên thực tế ông Đoàn Dương C là người ký kết hợp đồng và trực tiếp làm việc tại Công ty TNHH G1, do thời điểm nêu trên do ông Đoàn Dương C chưa đủ tuổi lao động nên mới mượn hồ sơ xin việc của ông Đoàn Dư Đ để thực hiện ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH G1 theo hợp đồng lao động vào tháng 4 năm 2011. Đến khoảng tháng 03 năm 2012 thì ông C đã nghỉ việc tại Công ty TNHH G1, đến nay ông vẫn chưa liên hệ với Bảo hiểm xã hội để giải quyết chế độ bảo hiểm khi còn làm việc tại Công ty TNHH G1. Hiện nay, ông Đoàn Dư Đ đi làm thủ tục rút bảo hiểm xã hội một lần nên có liên hệ với Bảo hiểm xã hội thì được thông báo bị trùng thông tin tham gia bảo hiểm xã hội.

Nay trước yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Dư Đ thì ông thống nhất, ông không có yêu cầu gì liên quan đến hợp đồng lao động trên, đồng thời có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Bảo hiểm xã hội thành phố T trình bày:

Ông Đoàn Dư Đ, sinh ngày 28/07/1987, số chứng minh nhân dân [...], số căn cước công dân [...] được Công ty TNHH G1 đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp, Bảo hiểm tai nạn lao động - Bệnh nghề nghiệp cho ông Đoàn Dư Đ từ tháng 04 năm 2011 đến tháng 03 năm 2012 mã số sổ Bảo hiểm xã hội 7411134595.

Tuy nhiên, trong thời gian này ông Đoàn Dư Đ tham gia bảo hiểm xã hội mã số 7409208203 tại Công ty TNHH A.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bảo hiểm xã hội thành phố T đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật và có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An:

  • + Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với việc xét xử sơ thẩm vụ án. Các đương sự chấp hành đúng pháp luật tố tụng, riêng bị đơn không chấp hành pháp luật tố tụng dân sự.
  • + Về nội dung: Căn cứ Điều 15, 16, 49 và 51 Bộ luật Lao động năm 2019; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tranh chấp hợp đồng lao động.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về tố tụng:

  • [1.1] Về quan hệ tranh chấp: Ông Đoàn Dư Đ khởi kiện yêu cầu tuyên hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động tên Đoàn Dư Đ (do Đoàn Dương C là người ký kết) với người sử dụng lao động là Công ty TNHH G1 trong khoảng thời gian từ tháng 04 năm 2011 đến tháng 03 năm 2012 là vô hiệu toàn bộ. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về hợp đồng lao động” được quy định tại khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
  • [1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn - Công ty TNHH G1 có địa chỉ trụ sở chính tại phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An.
  • [1.3] Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, bị đơn Công ty TNHH G1 được Tòa án thông báo và triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại các Điều 177; Điều 220; Điều 227 và Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do. Việc vắng mặt của bị đơn trong quá trình tố tụng được xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Ông Đ, ông C và Bảo hiểm xã hội thành phố T có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự.

2. Về nội dung:

  • [2.1] Quá trình tố tụng, các bên không cung cấp được tài liệu, chứng cứ là Hợp đồng lao động giữa ông Đoàn Dư Đ và Công ty TNHH G1. Tuy nhiên Ông Đ, ông C thống nhất có việc cho mượn giấy tờ tuỳ thân của ông Đ cho ông C giao kết hợp đồng Công ty TNHH G1. Mặt khác, Bảo hiểm xã hội thành phố T cũng xác định phía Công ty G1 có đóng BHXH cho ông Đ. Đây là sự thừa nhận của các đương sự là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • [2.2] Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thông tin do Bảo hiểm xã hội thành phố T, tỉnh Bình Dương cung cấp có cơ sở xác định ông Đoàn Dư Đ cho ông Đoàn Dương C mượn hồ sơ mang tên ông Đoàn Dư Đ để xác lập hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội từ tháng 4 năm 2011 đến tháng 3 năm 2012 tại Công ty TNHH G1 theo số Bảo hiểm xã hội 7411134595 là có căn cứ vì theo Công văn của bảo hiểm xã hội thành phố T cũng xác định trong thời gian này ông Đoàn Dư Đ cũng tham gia tham gia bảo hiểm xã hội mã số 7409208203 tại Công ty TNHH A.
  • [2.3] Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử có cơ sở xác định người ký kết hợp đồng lao động và thực tế làm việc Công ty TNHH G1 từ tháng 4 năm 2011 đến tháng 3 năm 2012 là ông Đoàn Dương C chứ không phải ông Đoàn Dư Đ. Việc ông Đoàn Dương C mượn hồ sơ của ông Đoàn Dư Đ để ký hợp đồng lao động và đi làm tại Công ty TNHH G1 là vi phạm nguyên tắc “trung thực” quy định tại Điều 9 Bộ luật lao động năm 1994 (khoản 1 Điều 15 Bộ luật lao động năm 2019), do đó căn cứ Điều 132 Bộ luật dân sự năm 2005 (Điều 127 Bộ luật dân sự năm 2015) và Điều 49, Điều 50 Bộ luật lao động năm 2019 đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ, nên có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Dư Đ.
  • [3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • [4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp.
  • [5] Về án phí: Nguyên đơn ông Đoàn Dư Đ tự nguyện chịu án phí lao động sơ thẩm nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • -Điểm d khoản 1 Điều 32; điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 244, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 9 Bộ luật lao động năm 1994 và Điều 17, 19, 50, 51, 52 Bộ luật Lao động năm 2012 (các Điều 15, 16, 49, 50, 51 Bộ luật Lao động năm 2019).
  • - Điều 132 Bộ luật dân sự năm 2005 (Điều 127 Bộ luật dân sự năm 2015).
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đoàn Dư Đ đối với bị đơn Công ty TNHH G1 về việc “tranh chấp hợp đồng lao động”.
  2. Tuyên bố Hợp đồng lao động giao kết giữa ông Đoàn Dư Đ (do ông Đoàn Dương C ký) và Công ty TNHH G1 trong thời gian từ tháng 04 năm 2011 đến tháng 03 năm 2012 bị vô hiệu toàn bộ.

  3. Về hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu: Cơ quan Bảo hiểm xã hội có thẩm quyền thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội đối với các đương sự theo quy định pháp luật.
  4. Về án phí: Ông Đoàn Dư Đ tự nguyện chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí lao động sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009834 ngày 14/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND Tp. Thuận An;
  • - CCTHADS Tp. Thuận An;
  • - Chánh án;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thiệu Văn Kết Em

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 304/2025/LĐ-ST ngày 19/06/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Thuận An, Tỉnh Bình Dương về tranh chấp về hợp đồng lao động

  • Số bản án: 304/2025/LĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng lao động
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Lao động
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Thuận An, Tỉnh Bình Dương
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA Đoàn Dư Điền - Công ty GRIITI VN
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger