|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số 304/2025/HNGĐ-ST Ngày 23/6/2025 V/v T/c Hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Bá Võ và ông Trần Xuân Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bích Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án thụ lý số 350/2025/TLST - HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2025 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 294/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị T, sinh năm 2005; địa chỉ: xóm C, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Bị đơn: Anh Thái Bá N, sinh năm 2003; nơi đăng ký HKTT trước khi xuất cảnh: Xóm N, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; hiện đang làm việc tại: Cộng hòa liên bang Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai, chị Huỳnh Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị T và anh Thái Bá N kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Úy ban nhân dân xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An vào ngày 28/9/2023. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau được 3 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Cuối năm 2023 anh N đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Vì khoảng cách địa lí quá xa, không có nhiều thời gian dành cho nhau vì thế vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, xảy ra mâu thuẫn cãi vã, tình cảm vợ chồng rạn nứt. Hiện nay hai vợ chồng cắt đứt liên lạc với nhau. Mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Huỳnh Thị T đề nghị tòa giải quyết cho chị Huỳnh Thị T được ly hôn với anh Thái Bá N.
Về con chung: Chị T và anh N chưa có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn anh Thái Bá N: Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã gửi các văn bản tố tụng; Thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu anh Thái Bá N có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án...cho anh Thái Bá N Thông qua ông Thái Hồng P và bà Ngô Thị H là bố, mẹ của anh Thái Bá N; thực hiện thủ tục niêm yết công khai các văn bản trên theo quy định của pháp luật, nhưng hiện anh Thái Bá N vẫn vắng mặt và cũng không có lý do. Theo trình bày của ông T1, bà H thì anh N hiện đang đi làm ăn ở Đức, có điện thoại về cho gia đình nhưng không nói địa chỉ hiện tại của anh N ở đâu và anh N cũng biết việc chị T làm đơn ly hôn tại Tòa án, anh N cũng đồng ý ly hôn.
Theo kết quả trả lời xác minh tại Công văn số 2485/QLXNC-Đ1 ngày 20/6/2025 của Phòng Q – Công an tỉnh N: Thái Bá N có thông tin xuất cảnh vào ngày 23/3/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của đường sự. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung đơn khởi kiện của chị Huỳnh Thị T, cho chị T được ly hôn anh Thái Bá N; dành quyền khởi kiện về chia tài sản cho các đương sự khi có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Thẩm quyền giải quyết: Vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn là anh Thái Bá N có địa chỉ trước khi đi nước ngoài tại xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; anh N hiện đang sinh sống Đ. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án anh Thái Bá N vắng mặt, Tòa án đã thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ đối với anh N thông qua người thân là bố, mẹ của anh N. Bố, mẹ anh N là ông Thái Bá T1, bà Ngô Thị H cho biết anh N đang đi xuất khẩu lao động tại Đức, nhưng anh N không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài cung cấp cho ông, bà không có địa chỉ của anh N cung cấp cho Tòa án. Ông, bà thông báo cho anh N biết việc chị T làm đơn ly hôn tại Tòa án thì anh N cũng đồng ý ly hôn. Kết quả xác minh tại Cục Q1, anh Thái Bá N có thông tin xuất cảnh ngày 23/3/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Căn cứ khoản 1 Điều 207, khoản 1 khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.
[3] Về nội dung:
[3.1] Quan hệ hôn nhân: Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, nhận thấy, chị Huỳnh Thị T và anh Thái Bá N kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Hôn nhân giữa chị T và anh N là hôn nhân hợp pháp. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ cuộc sống, nay anh N đang ở nước ngoài, mâu thuẫn không được hàn gắn, giải quyết. Đến nay tình cảm của chị T và anh N không còn. Khi biết chị T làm đơn xin ly hôn tại Tòa án thì anh N cũng đồng ý. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị Huỳnh Thị T và anh Thái Bá N không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Huỳnh Thị T cho chị Huỳnh Thị T được ly hôn anh Thái Bá N.
[3.2] Về con chung: Chị Huỳnh Thị T và anh Thái Bá N chưa có con chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
[3.3] Tài sản chung, nợ: Chị Huỳnh Thị T chưa yêu cầu giải quyết và anh Thái Bá N cũng chưa có ý kiến gì nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
[4] Về án phí: Chị Huỳnh Thị T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 469 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 58 Điều 122, Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Huỳnh Thị T.
- Quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị T được ly hôn anh Thái Bá N.
- Án phí: Buộc chị Huỳnh Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) số tiền tạm ứng đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007780 ngày 05/5/2025.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau:
Chị Huỳnh Thị T vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Anh Thái Bá N đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thúy Ngọc |
Bản án số 304/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 304/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa T và N
