Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 304/2025/DS-PT

Ngày 16 tháng 4 năm 2025

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất;

đòi tài sản; yêu cầu hủy giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Mạnh Cường

Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Ý

Ông Vương Minh Tâm

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Gia Viễn - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 951/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất; đòi tài sản; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 700/2025/QĐ-PT ngày 18 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị X, sinh năm 1949; địa chỉ cư trú: Tổ 1, ấp T, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang; vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bà X: Bà Lê Lâm T, sinh năm 1970; địa chỉ cư trú: Số A L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà X: Ông Nguyễn Quốc K là Luật sư của Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A; có mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1966 và và Trần Thị Đ, sinh năm 1968; có mặt.

Cùng địa chỉ cư trú: Tổ I, ấp T, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Đ: Ông Nguyễn Duy T1, sinh năm 1991; địa chỉ cư trú: Số A, Khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông S và bà Đ: Ông Nguyễn Thành T2 là Luật sư của Công ty TNHH MTV N, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân thị xã T, tỉnh An Giang; trụ sở: Khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang;

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Thanh P, chức vụ: Phó trưởng Phòng Nông nghiệp và Môi trường thị xã T; có đơn xin vắng mặt.

  2. Ông Trần Văn S1, sinh năm 1957; vắng mặt.
  3. Bà Ngô Thị Đ1, sinh năm 1952; vắng mặt.

    Cùng cư trú: Tổ I, ấp T, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang.

- Người kháng cáo: Bà Lê Thị X là Nguyên đơn; bà Trần Thị Đ là Bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Bà Lê Thị X trình bày: Bà X là chủ sử dụng quyền sử dụng đất tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 1994, bà X cho cụ Bùi Thị X1 diện tích đất có chiều ngang 04m x dài 06m cất nhà ở. Năm 1998 cụ X1 chết. Con của cụ X1 là bà Trần Thị Đ và chồng là ông Nguyễn Văn S tiếp tục ở tại căn nhà này. Khoảng năm 2004 - 2005, bà X đổ đất phía sau nhà cụ X1 và dự định cất nhà nhưng bị bà Đ, ông S ngăn cản nên phát sinh tranh chấp. Sau khi phát hiện ông S đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng 219,9m² đất, bà X khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2006/DSST ngày 20/7/2006, Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà X. Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 510/2006/DSPT ngày 14/12/2006, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà X.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 255/2010/DS-GĐT ngày 26/5/2010, Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm và bản án dân sự sơ thẩm nêu trên, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà X rút đơn khởi kiện;

ngày 19/10/2010, Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên đã ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 21/2010/QĐST-DS đối với tranh chấp của bà X.

Ngày 21/5/2021, bà X nộp đơn khởi kiện lại vụ án yêu cầu: Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.00229dK ngày 10/4/2004 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông S diện tích 219,9m² đất thuộc thửa số 17, tờ bản đồ số 10 tại xã T, huyện T (nay là thị xã T), tỉnh An Giang; buộc ông S và bà Đ phải tháo dỡ, di dời nhà ở, các loại cây trồng trên đất để trả lại diện tích 219,9m² đất thuộc thửa số 17, tờ bản đồ số 10 tại xã T, thị xã T, tỉnh An Giang; đồng thời, buộc ông S, bà Đ phải trả cho bà X số tiền 60.654.400 đồng là tiền bồi thường đất và hỗ trợ di dời theo Quyết định số 4397/QĐ-UBND ngày 03/6/2019 của Ủy ban nhân dân huyện T.

2. Ông Nguyễn Văn S và bà Trần Thị Đ trình bày: Trước đây cụ X1 cất một căn nhà ở tại khu đất của Trường Tiểu học T4. Năm 1994, Ủy ban nhân dân xã T động viên cụ X1 di dời nhà để giao trả đất cho Trường Tiểu học T4. Tuy nhiên, do cụ X1 không có đất cất nhà nên Ủy ban nhân dân xã T đã động viên vợ chồng ông Trần Văn S1, bà Ngô Thị Đ1 cho cụ X1 một phần đất để làm nhà ở; vận động bà X cho cụ X1 một phần đất để cất nhà bếp. Thực tế, ông S1 và bà Đ1 đã cho cụ X1 diện tích đất có chiều ngang 4,5m x chiều dài khoảng 43m; bà X cho cụ X1 diện tích đất có chiều ngang 02m x dài khoảng 43m. Cũng trong năm 1994, cụ X1 cất nhà ở, đến năm 1996 cụ X1 chết; con của cụ X1 là vợ chồng ông S, bà Đ tiếp tục quản lý, sử dụng và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 10/4/2004. Trước yêu cầu khởi kiện của bà X, ông S và bà Đ không đồng ý, đề nghị Tòa án xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang quyết định (tóm tắt):

Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị X đối với ông Nguyễn Văn S và bà Trần Thị Đ về yêu cầu trả diện tích 03m² đất và số tiền 60.654.400 đồng do Nhà nước bồi thường và hỗ trợ di dời theo Quyết định số 4397/QĐ-UBND ngày 03/6/2019 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị X: Buộc ông Nguyễn Văn S và bà Trần Thị Đ cùng có nghĩa vụ trả giá trị quyền sử dụng diện tích 192,9m² đất cho bà Lê Thị X là số tiền 607.500.000 đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, bà Trần Thị Đ kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024, bà Lê Thị X kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Trần Thị Đ giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị X; bà Lê Thị X giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không tính công sức bằng 30% cho ông S, bà Đ.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông S và bà Đ trình bày quan điểm: Cụ X1 có hoàn cảnh khó khăn, không có đất xây nhà nên có tự ý xây cất một căn nhà ở tại khu đất của Trường Tiểu học T4. Năm 1994, Ủy ban nhân dân xã T động viên cụ X1 di dời nhà để giao trả đất cho Trường Tiểu học T4 nhưng do cụ X1 không có đất cất nhà nên chính quyền địa phương đã động viên vợ chồng ông Trần Văn S1, bà Ngô Thị Đ1 cho cụ X1 một phần đất để làm nhà ở; vận động bà X cho cụ X1 một phần đất để cất nhà bếp. Vì vậy, ông S1 và bà Đ1 đã cho cụ X1 diện tích đất có chiều ngang 4,5m x chiều dài khoảng 43m; bà X cho cụ X1 diện tích đất có chiều ngang 02m x dài khoảng 43m, sau đó cụ X1 cất nhà ở. Năm 1996 cụ X1 chết, con của cụ X1 là vợ chồng ông S, bà Đ tiếp tục quản lý, sử dụng và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 10/4/2004. Như vậy, việc cho đất là hợp pháp, gia đình cụ X1, ông S, bà Đ đã sử dụng đất ổn định hơn 30 năm và đã được công nhận quyền sử dụng đất. Bà X khởi kiện yêu cầu bị đơn trả đất là không có căn cứ pháp luật bởi tại thời điểm cho đất bà X cũng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cũng không có quyền sử dụng đất hợp pháp.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Đ trình bày quan điểm: Thống nhất với quan điểm trình bày của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Đ và ông S.

Ông Nguyễn Văn S và bà Trần Thị Đ trình bày: Thống nhất với quan điểm trình bày của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà X trình bày quan điểm: Bảo lưu quan điểm đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không đồng ý việc tính công sức gìn giữ, bảo quản đất của bị đơn tương đương với 30% giá trị đất. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà X.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm:

- Về tố tụng: Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật; những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung: Các đương sự cùng thừa nhận thửa đất số 17 có nguồn gốc của bà X. Năm 2003, sau khi phát hiện ông S, bà Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà X đã có đơn tranh chấp liên tục cho tới nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông S, bà Đ không chứng minh được quyền sử dụng hợp pháp đối với thửa đất 17 trong khi đó bà X chỉ thừa nhận tặng cho

ông S, bà Đ phần diện tích đất là 24m² (ngang 04m x dài 06m) nên cần buộc ông S, bà Đ trả lại cho bà X giá trị diện tích đất còn lại sau khi trừ diện tích đất đã tặng cho và công sức giữ gìn bảo quản đất của bị đơn là hợp tình, hợp lý. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà X, bà Đ và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Tòa án nhận định:

[1] Đơn kháng cáo của bà Lê Thị X và bà Trần Thị Đ nộp trong hạn luật định, đúng quy định pháp luật nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự và người đại diện hợp pháp của các đương sự vắng mặt nhưng thuộc trường hợp đã có đơn xin xét xử vắng mặt hoặc đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ theo quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Xét kháng cáo của bà Lê Thị X và bà Trần Thị Đ như sau:

[3.1] Đất tranh chấp có diện tích 216,9m² thuộc thửa số 17, Tờ bản đồ số 10 tại xã T, thị xã T, tỉnh An Giang, đã được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.00229dK cho ông Nguyễn Văn S và bà Trần Thị Đ vào ngày 10/4/2004.

[3.2] Theo trình bày của ông S, bà Đ, ông S1, bà Đ1 trong quá trình giải quyết vụ án thì: Trong tổng diện tích đất của cụ X1 có một phần diện tích đất do ông S1, bà Đ1 tặng cho cụ X1 (chiều ngang 4,5m x chiều dài 43m) và một phần diện tích đất do bà X tặng cho cụ X1 (chiều ngang 02m x chiều dài 43m). Tuy nhiên, lời khai của ông S, bà Đ, ông S1, bà Đ1 không được bà X thừa nhận, bà X cho rằng bà chỉ cho cụ X1 một phần diện tích đất có chiều ngang 04m x 06m. Như vậy, lời khai của các đương sự có mâu thuẫn, không thống nhất. Quá trình thu thập chứng cứ tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, ông Lê Văn L (nguyên là Chủ tịch Hội chữ thập đỏ xã Tân Lập) trình bày, vào năm 1994 ông và ông Nguyễn Thành T3 (nguyên là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T) có vận động bà X cho cụ X1 đất cất nhà nhưng không nhớ chính xác diện tích cụ thể; còn vợ chồng ông S1, bà Đ1 chỉ là những người ở nhờ trên đất của bà X chứ không phải là chủ sử dụng đất hợp pháp; trên thực tế vào khoảng năm 2005 - 2006, bà X có bồi đắp và cải tạo đất tại vị trí phía sau nhà của ông S, bà Đ và bị Ủy ban nhân dân xã T lập Biên bản ngày 13/3/2006. Như vậy, có cơ sở xác định đất cụ X1 sử dụng cất nhà có nguồn gốc của bà X, nên việc bà Đ và người đại diện theo ủy quyền của bà Đ cho rằng không có căn cứ xác định bà X có quyền sử dụng đất hợp pháp là không thuyết phục.

[3.3] Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.00228 ngày 04/10/2004 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang thể hiện: Bà Đ1, ông S1 được cấp quyền sử dụng 331,3m² đất thuộc thửa đất số 16, Tờ bản đồ số 10 ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang. Tại Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất gửi Ủy ban nhân dân huyện T và Ủy ban nhân dân xã T ngày 18/6/2001, bà Đ1 kê khai đất có nguồn gốc của chị là Lê Thị X cho ở ổn định từ trước năm 1975. Còn theo Biên bản xác định ranh, mốc giới khu đất ngày 09/5/2000 và Hồ sơ kỹ thuật khu đất do Phòng Đại chính lập ngày 10/6/2001 thì thể hiện thửa đất số 16 của bà Đ1, ông S1 giáp với thửa đất số 17 mà bà X đang tranh chấp với ông S, bà Đ.

[3.4] Như vậy, bà Đ1 và ông S1 cho rằng đã tặng cho cụ X1 một phần đất có chiều ngang 4,5m x chiều dài 43m là không phù hợp với thực tế và việc Ủy ban nhân dân huyện T căn cứ vào Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất do ông S, bà Đ tự kê khai nguồn gốc đất là của ông Trần Văn S1 cho để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất những người này là không đúng đối tượng. Tại Công văn số 6255/UBND-NC ngày 15/11/2023, Ủy ban nhân dân xã T xác nhận quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông S, bà Đ là trên cơ sở cấp đại trà, căn cứ vào kê khai, đăng ký của người sử dụng đất. Do đó, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông S, bà Đ trong trường hợp này cần xác định là chưa đảm bảo trình tự, thủ tục luật định.

[3.5] Với những tài liệu, chứng cứ trên thì có đủ cơ sở xác định thửa đất số 17 có nguồn gốc của bà X, ngay sau khi phát hiện ông S, bà Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2003, thì ngày 01/02/2005 bà X đã có đơn tranh chấp liên tục cho tới nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông S, bà Đ không chứng minh được mình có quyền sử dụng hợp pháp đối với thửa đất số 17, trong khi đó bà X chỉ thừa nhận tặng cho ông S, bà Đ phần đất có diện tích đất 24m² (ngang 04m x dài 06m); do đó, cần buộc ông S, bà Đ trả lại cho bà X phần diện tích đất còn lại sau khi trừ diện tích đất đã tặng cho 24m², nhưng do gia đình ông S, bà Đ đã sử dụng đất ổn định, xây nhà trên đất và không có chỗ ở khác nên chỉ buộc ông S, bà Đ trả lại giá trị quyền sử dụng đất cho bà X là hợp tình, hợp lý. Cùng với đó, trong quá trình sử dụng đất, ông S, bà Đ có công sức cải tạo, bồi bổ làm tăng giá trị đất nên Tòa án cấp sơ thẩm tính toán công sức cho ông S, bà Đ bằng 30% giá trị đất là đảm bảo được đầy đủ quyền lợi của ông S, bà Đ.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Đối với quan điểm của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn, Bị đơn không được chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Trần Thị Đ phải chịu; bà Lê Thị X được miễn theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị X, bà Trần Thị Đ; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Áp dụng: Điều 105, Điều 115, Điều 166, Điều 183 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Tuyên xử:

  1. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị X đối với ông Nguyễn Văn S và bà Trần Thị Đ về yêu cầu trả diện tích 03m² đất và số tiền 60.654.400 (sáu mươi triệu sáu trăm năm mươi bốn nghìn bốn trăm) đồng do Nhà nước bồi thường và hỗ trợ di dời theo Quyết định số 4397/QĐ-UBND ngày 03/6/2019 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị X: Buộc ông Nguyễn Văn S và bà Trần Thị Đ có nghĩa vụ liên đới trả giá trị quyền sử dụng diện tích 192,9m² đất cho bà Lê Thị X với số tiền 607.500.000 (sáu trăm lẻ bảy triệu năm trăm ngàn) đồng .
  3. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn S và bà Trần Thị Đ có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Lê Thị X chi phí tố tụng là 11.073.216 (mười một triệu không trăm bảy mươi ba ngàn hai trăm mười sáu) đồng.
  4. Về án phí:

    Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn S và bà Trần Thị Đ phải chịu 28.300.000 (hai mươi tám triệu ba trăm ngàn) đồng. Bà Lê Thị X được miễn.

    Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị Đ phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng 300.000 (ba trăm ngàn) đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0000397 ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Bà Lê Thị X được miễn.

  5. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân

sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Các quyết định khác của Bản án dân sự sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

- Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Vụ Pháp chế và Quản lý Khoa học;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP. HCM;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, HSVA - NTHN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Mạnh Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 304/2025/DS-PT ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất; đòi tài sản; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

  • Số bản án: 304/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất; đòi tài sản; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị X, bà Trần Thị Đ; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger