Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 3035/2024/DS-ST

Ngày: 27-9-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Lan.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Lương Quân;
  2. Ông Lê Văn Quý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Phương Thảo, là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 712/2024/DSST ngày 24 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14920/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 16473/2024/QĐST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2024, giữa:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N.

Địa chỉ: A T, Phường L, Quận H, Tp ..

Người đại diện hợp pháp của Nguyên đơn:

  1. Ông Lê Hoàng L, sinh năm 1982;
  2. Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1978;

Cùng địa chỉ liên hệ: 9 T, Phường E, Quận E, Tp ..

(Theo Giấy ủy quyền số 864/GUQ-SGC/24 ngày 12/6/2024) (Có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn:

  1. Ông Nguyễn Hữu H, sinh năm 1963;
  2. Bà Trần Thị T, sinh năm 1967.

Cùng địa chỉ: B Tầng T Chung cư B N, Phường N, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện, tại các bản khai, trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt ông Lê Hoàng L là người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn - Ngân hàng TMCP N trình bày:

1. Ngày 25/10/2022, Ngân hàng TMCP N (sau đây gọi tắt là Nguyên đơn) ký với ông Nguyễn Hữu H và bà Trần Thị T (Sau đây gọi tắt là Bị đơn) Hợp đồng cho vay theo hạn mức số 282B22, nội dung cụ thể như sau:

  • Số tiền vay: 4.000.000.000 đồng (Bốn tỷ đồng);
  • Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh văn phòng phẩm;
  • Lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn;
  • Thời hạn cho vay: 06 tháng kể từ ngày giải ngân;
  • Thời hạn nhận nợ: 12 tháng kể từ ngày ký hợp đồng cho vay;

Thực hiện Hợp đồng trên, Nguyên đơn đã giải ngân cho Bị đơn vay cụ thể như sau:

  1. Giấy nhận nợ số 01 ngày 27/10/2022: Số tiền giải ngân: 4.000.000.000 đồng, ngày đến hạn 27/4/2023;
  2. Giấy nhận nợ số 02 ngày 13/4/2023: Số tiền giải ngân: 400.000.000 đồng, ngày đến hạn 13/10/2023;
  3. Giấy nhận nợ số 03 ngày 14/4/2023: Số tiền giải ngân: 400.000.000 đồng, ngày đến hạn 14/10/2023;
  4. Giấy nhận nợ số 04 ngày 17/4/2023: Số tiền giải ngân: 400.000.000 đồng, ngày đến hạn 17/10/2023;
  5. Giấy nhận nợ số 05 ngày 18/4/2023: Số tiền giải ngân: 400.000.000 đồng, ngày đến hạn 18/10/2023;
  6. Giấy nhận nợ số 06 ngày 19/4/2023: Số tiền giải ngân: 400.000.000 đồng, ngày đến hạn 19/10/2023;
  7. Giấy nhận nợ số 07 ngày 20/4/2023: Số tiền giải ngân: 400.000.000 đồng, ngày đến hạn 19/10/2023;
  8. Giấy nhận nợ số 08 ngày 25/4/2023: Số tiền giải ngân: 1.200.000.000 đồng, ngày đến hạn 25/10/2023;
  9. Giấy nhận nợ số 09 ngày 12/5/2023: Số tiền giải ngân: 400.000.000 đồng, ngày đến hạn 12/10/2023;
  10. Giấy nhận nợ số 10 ngày 18/10/2023: Số tiền giải ngân: 1.600.000.000 đồng, Số tiền dư nợ còn lại: 1.599.820.214; ngày đến hạn 10/4/2024;
  11. Giấy nhận nợ số 11 ngày 19/10/2023: Số tiền giải ngân: 1.600.000.000 đồng, Số tiền nợ còn lại: 1.600.000.000 đồng; ngày đến hạn 11/4/2024;
  12. Giấy nhận nợ số 12 ngày 20/10/2023: Số tiền giải ngân: 800.000.000 đồng, Số tiền nợ còn lại: 800.000.000 đồng; ngày đến hạn 20/10/2024;

Bị đơn đã trả tất cả nợ gốc và lãi các Giấy nhận nợ từ số 01 đến số 09. Đối với các khoản nhận nợ từ Giấy nhận nợ số 10 đến số 12 hiện nay Bị đơn không trả nợ đúng theo quy định và toàn bộ 03 khoản vay này đã chuyển sang nợ quá hạn.

Tính đến ngày 27/9/2024, Bị đơn còn nợ Nguyên đơn đối với Hợp đồng cho vay theo hạn mức số 282B22 ngày 25/10/2022 tổng số tiền là 4.204.609.474 đồng. Trong đó nợ gốc là 3.999.820.214 đồng (Trong đó: Giấy nhận nợ số 10 số tiền nợ gốc là 1.599.820.214 đồng; Giấy nhận nợ số 11 số tiền nợ gốc là 1.600.000.000 đồng; Giấy nhận nợ số 12 số tiền nợ gốc là 800.000.000 đồng) và tiền lãi tạm tính đến ngày 27/9/2024 là 204.789.260 đồng (Trong đó: Lãi trong hạn là 138.602.524 đồng, lãi quá hạn là 63.414.139 đồng, lãi phạt chậm trả lãi là 2.772.597 đồng).

2. Ngoài ra, căn cứ Đề nghị phát hành kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng số 282B22/PHT ngày 27/10/2022 (sau đây gọi tắt là “Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng”), Nguyên đơn phát hành thẻ tín dụng với hạn mức thẻ là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) cho ông Nguyễn Hữu H. Quá trình sử dụng thẻ ông H vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Tính đến ngày 27/9/2024, ông H còn nợ Nguyên đơn đối với Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số tiền 209.213.745 đồng, trong đó nợ gốc là 190.400.610 đồng; nợ lãi là: 15.816.375 đồng; phí phạt: 2.996.760 đồng.

3. Khoản nợ nêu trên của Bị đơn được bảo đảm bởi tài sản là Quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 360, TBĐ số 23, tại thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An; Diện tích đất: 547,1 m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tài sản khác gắn liền với đất số DC 774747; Số vào sổ cấp GCN: CS09641 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 28/10/2021 cập nhật quyền sử dụng đất cho Nguyễn Hữu H ngày 27/5/2022.

Việc thế chấp đã được lập Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 346/NHNT-KH/TC/22 ký ngày 25/10/2022, đăng ký thế chấp ngày 26/10/2022 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Long An.

Hiện nay, toàn bộ các khoản vay của Bị đơn đã chuyển sang nợ quá hạn và Nguyên đơn đã nhiều lần nhắc nợ bằng nhiều hình thức như gửi công văn thông báo nợ quá hạn, gọi điện thoại cho Bị đơn. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại Bị đơn không có biện pháp để giải quyết dứt điểm cho Nguyên đơn các khoản nợ gốc và nợ lãi quá hạn nêu trên.

Do đó để đảm bảo quyền lợi hợp pháp, Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  1. Buộc Bị đơn là ông Nguyễn Hữu H và bà Trần Thị T thanh toán dư nợ của Hợp đồng cho vay theo hạn mức số 282B22 ngày 25/10/2022 tổng số tiền tạm tính đến ngày 27/9/2024 là: 4.204.609.474 đồng (Bao gồm: Nợ gốc: 3.999.820.214 đồng; Lãi trong hạn: 138.602.524 đồng; Lãi quá hạn: 63.414.139 đồng; Lãi phạt chậm trả lãi: 2.772.597 đồng);

Ông Nguyễn Hữu H và bà Trần Thị T còn phải chịu tiền lãi kể từ ngày 28/9/2024 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ cho Nguyên đơn theo mức lãi suất được quy định tại Hợp đồng cho vay theo hạn mức số 282B22 ngày 25/10/2022.

  1. Buộc Bị đơn là ông Nguyễn Hữu H thanh toán dư nợ theo Đề nghị phát hành kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng số 282B22/PHT ngày 27/10/2022 tổng số tiền tạm tính đến ngày 27/9/2024 là 209.213.745 đồng, trong đó nợ gốc là 190.400.610 đồng; nợ lãi là: 15.816.375 đồng; phí phạt: 2.996.760 đồng.

Ông Nguyễn Hữu H còn phải chịu tiền lãi kể từ ngày 28/9/2024 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ cho Nguyên đơn theo mức lãi suất được quy định tại Đề nghị phát hành kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng số 282B22/PHT ngày 27/10/2022 .

  1. Trường hợp Bị đơn không thực hiện/thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán, Nguyên đơn yêu cầu được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ đối với các khoản nợ nêu trên.

* Bị đơn là ông Nguyễn Hữu H và bà Trần Thị T đã được Tòa án tổng đạt các văn bản tố tụng, triệu tập tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải; triệu tập tham gia phiên toà đến lần thứ hai nhưng đều vắng mặt không có lý do, không giao nộp văn bản trình bày ý kiến và chứng cứ phản đối yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 phát biểu ý kiến:

Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tòa án xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thời hiệu, thực hiện thủ tục cấp tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát, thành phần tham gia xét xử được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do mặc dù đã được tống đạt hợp lệ. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 không có kiến nghị gì về tố tụng.

Về nội dung: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về pháp luật tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Xét Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Bị đơn thanh toán nợ gốc và lãi, yêu cầu Tòa án xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi dư nợ theo hợp đồng tín dụng mà các bên đã tham gia ký kết có cơ sở xác định đây là quan hệ tranh chấp dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn có địa chỉ tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 1, Tp . theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về việc ủy quyền tham gia tố tụng:

Xét Giấy ủy quyền số 864/GUQ-SGC/24 ngày 12/6/2024 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N ủy quyền cho ông Lê Hoàng L hoặc bà Nguyễn Thị G tham gia tố tụng giải quyết vụ án là hợp lệ nên ông L có đủ tư cách đại diện Nguyên đơn tham gia tố tụng tại Tòa án.

[1.3] Về việc xét xử vắng mặt đương sự:

Căn cứ kết quả cung cấp thông tin của Công an Phường N, Quận A, Tp . có cơ sở xác định Bị đơn là ông Nguyễn Hữu H và Trần Thị T cùng có hộ khẩu thường trú tại B Tầng T Chung cư B N, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không thực tế cư trú tại địa chỉ trên, hiện Bị đơn ở đâu không rõ. Do đó, căn cứ thông tin của Bị đơn ghi nhận tại hợp đồng tín dụng và Tòa án thu thập được có cơ sở xác định địa chỉ 203 Tầng T Chung cư B N, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nơi cư trú cuối cùng của Bị đơn.

Xét Bị đơn thay đổi địa chỉ cư trú nhưng không thông báo cho Nguyên đơn biết được xem là cố tình giấu địa chỉ. Toà án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung, địa chỉ thường trú là địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của Bị đơn làm cơ sở để thực hiện thủ tục cấp tống đạt và niêm yết theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập Bị đơn tham gia phiên toà đến lần thứ hai nhưng Bị đơn vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành phiên toà xét xử vắng mặt Bị đơn theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn:

[2.1]. Đối với yêu cầu trả nợ gốc và lãi của các Giấy nhận nợ số 10 ngày 18/10/2023; Giấy nhận nợ số 11 ngày 19/10/2023 và Giấy nhận nợ số 12 ngày 20/10/2023 kèm theo Hợp đồng cho vay theo hạn mức số 282B22 ngày 25/10/2022:

[2.1.1] Về yêu cầu trả nợ gốc:

- Đối với Giấy nhận nợ số 10 ngày 18/10/2023: Các đương sự thỏa thuận số tiền nhận nợ là 1.600.000.000 (Một tỉ sáu trăm triệu) đồng, thời hạn vay 175 ngày, kể từ ngày 18/10/2023 đến ngày 10/4/2024. Bị đơn có nghĩa vụ trả nợ gốc vào cuối kỳ.

- Đối với Giấy nhận nợ số 11 ngày 19/10/2023: Các đương sự thỏa thuận số tiền nhận nợ là 1.600.000.000 (Một tỉ sáu trăm triệu) đồng, thời hạn vay 175 ngày, kể từ ngày 19/10/2023 đến ngày 11/4/2024. Bị đơn có nghĩa vụ trả nợ gốc vào cuối kỳ.

- Đối với Giấy nhận nợ số 12 ngày 20/10/2023: Các đương sự thỏa thuận số tiền nhận nợ là 800.000.000 (T1 trăm triệu) đồng, thời hạn vay 175 ngày, kể từ ngày 20/10/2023 đến ngày 10/4/2024. Bị đơn có nghĩa vụ trả nợ gốc vào cuối kỳ.

Đến nay thời hạn vay đã hết, Bị đơn còn nợ Nguyên đơn số tiền gốc là 3.999.820.214 đồng (trong đó G1 nhận nợ số 10 là 1.599.820.214 đồng, Giấy nhận nợ số 11 là 1.600.000 đồng, Khế ước nhận nợ số 12 là 800.000.000 đồng) là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận. Vì vậy, việc Nguyên đơn yêu cầu trả nợ gốc của các Giấy nhận nợ nêu trên số tiền 3.999.820.214 đồng là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự 2015 “bên vay tài sản là tiền phải trả đủ tiền khi đến hạn” nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.1.2] Về yêu cầu trả nợ lãi:

Tại các Giấy nhận nợ số 10, số 11 và số 12 các đương sự đều thỏa thuận lãi suất vay là 6.8%/năm, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn và lãi phạt chậm trả lãi là 10%/năm.

- Đối với Giấy nhận nợ số 10 ngày 18/10/2023, Bị đơn phải thanh toán cho Nguyên đơn số tiền lãi là tiền lãi trong hạn là 103.130.744 đồng, lãi quá hạn là 25.483.180 đồng, lãi phạt là 1.187.950 đồng. Tuy nhiên, Bị đơn chỉ thanh toán được 47.693.152 đồng lãi trong hạn và lãi phạt là 78.939 đồng. Tạm tính đến ngày 27/9/2024, Bị đơn còn nợ Nguyên đơn số tiền lãi là 82.029.783 đồng (trong đó lãi trong hạn là 55.437.592 đồng, lãi quá hạn là 25.483.180 đồng, lãi phạt là 1.109.011 đồng).

- Đối với Giấy nhận nợ số 11 ngày 19/10/2023 Bị đơn phải thanh toán cho Nguyên đơn số tiền lãi trong hạn là 102.838.356 đồng, lãi quá hạn tạm tính đến ngày 27/9/2024 là 25.336.986 đồng, lãi phạt là 1.193.623 đồng. Tuy nhiên, Bị đơn chỉ thanh toán được 47.395.068 đồng lãi trong hạn và lãi phạt là 84.512 đồng. Tạm tính đến ngày 27/9/2024, Bị đơn còn nợ Nguyên đơn số tiền lãi là 81.889.385 đồng, trong đó lãi trong hạn là 55.443.288 đồng, lãi quá hạn là 25.336.986 đồng, lãi phạt là 1.109.111 đồng.

- Đối với Giấy nhận nợ số 12 ngày 20/10/2023 Bị đơn phải thanh toán cho Nguyên đơn số tiền lãi trong hạn là 51.270.137 đồng, lãi quá hạn tạm tính đến ngày 27/9/2024 là 12.593.973 đồng, lãi phạt là 597.559 đồng. Tuy nhiên, Bị đơn chỉ thanh toán được 23.548.493 đồng lãi trong hạn và lãi phạt là 43.084 đồng. Tạm tính đến ngày 27/9/2024, Bị đơn còn nợ Nguyên đơn số tiền lãi là 40.870.092 đồng (Trong đó lãi trong hạn là 27.721.644 đồng, lãi quá hạn là 12.593.973 đồng, lãi phạt là 554.475 đồng).

Thời hạn vay của các khế ước nhận nợ hết thời hạn nhưng Bị đơn vẫn còn nợ Nguyên đơn số tiền lãi trong hạn đối với cả ba khế ước nhận nợ là 138.602.524 đồng là vi phạm nghĩa vụ trả nợ lãi.

Việc Nguyên đơn tính lãi quá hạn trên số tiền nợ quá hạn của mỗi kỳ trả nợ là phù hợp với thỏa thuận của các bên và phù hợp với quy định của pháp luật về tính lãi nợ quá hạn. Vì vậy, Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn trả nợ lãi đối với 03 khế ước nhận nợ nêu trên, trong đó bao gồm lãi trong hạn là 138.602.524 đồng, lãi quá hạn là 63.414.139 đồng, lãi phạt chậm trả lãi là 2.772.597 đồng là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tiền lãi sẽ được tiếp tục phát sinh kể từ ngày 28/9/2024 cho đến khi Bị đơn thanh toán xong các khoản nợ cho Nguyên đơn theo mức lãi suất được quy định tại Hợp đồng cho vay số số 282B22 ngày 25/10/2022 và khế ước nhận nợ số 10 ngày 18/10/2023, số 11 ngày 19/10/2023 và số 12 ngày 20/10/2023 đến khi trả hết nợ vay cho Ngân hàng.

[2.2]. Đối với yêu cầu trả nợ gốc và lãi đối với Thẻ tín dụng số VP02500194154 ngày 27/10/2022, theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 282B22/PHT ngày 27/10/2022:

Hội đồng xét xử xét thấy, tại thời điểm ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng thì ông H và bà T đang là vợ chồng hợp pháp theo Giấy chứng nhận kết hôn số 27, Quyển số 01 ngày 14//2000 của Ủy ban nhân Phường B, quận B, Tp .. Trong quá trình quyết vụ án, không ai có ý kiến để yêu cầu xác định khoản nợ tại thẻ tín dụng là nợ riêng của ông H. Căn cứ vào Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xác định đây là khoản nợ chung của ông H, bà T.

Tại Mục 1.7 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành thẻ tín dụng quốc tế của V quy định: Chủ thẻ có trách nhiệm kiểm tra và thanh toán đúng hạn cho V. Số tiền thanh toán tối thiểu = Số dư nợ cuối kỳ sao kê ngoài tra góp x tỉ lệ thanh toán tối thiểu

Tại Mục 1.5 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành thẻ tín dụng quốc tế của V quy định về Mức lãi suất thẻ được V1 thông báo cho khách hàng tại thời điểm phát hành thẻ và có thể điều chỉnh trong từng kỳ phù hợp với Ngân hàng N1 và phương pháp tính lãi. Theo bảng chi tiết tính nợ gốc và lãi ngày 27/9/2024 đối với thẻ tín dụng thì Nguyên đơn áp dụng mức lãi suất 15% là phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.

Tạm tính đến ngày 27/9/2024 Bị đơn còn nợ Nguyên đơn số tiền 209.213.745 đồng (bao gồm nợ gốc là 190.400.610 đồng; nợ lãi là: 15.816.375 đồng; phí phạt: 2.996.760 đồng). Như vậy, việc Bị đơn không thanh toán số tiền còn lại đã vi phạm thỏa thuận tại hợp đồng mà các bên đã ký kết nên việc Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn trả tiền số tiền 209.213.745 đồng (bao gồm nợ gốc là 190.400.610 đồng; nợ lãi là: 15.816.375 đồng; phí phạt: 2.996.760 đồng) là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tiền lãi sẽ được tiếp tục phát sinh kể từ ngày 28/9/2024 cho đến khi Bị đơn thanh toán xong các khoản nợ cho Nguyên đơn theo mức lãi suất được thỏa thuận tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 26/4/2022 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng kèm theo.

[2.3]. Về yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp:

Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tài sản khác gắn liền với đất số DC 774747; Số vào sổ cấp GCN: CS09641 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh L cấp ngày 28/10/2021, có cơ sở xác định ông Nguyễn Hữu H và bà Trần Thị T thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 360, TBĐ số 23, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với Ngân hàng Thương mại Cổ phần N là không trái quy định của pháp luật.

Xét Hợp đồng thế chấp số: 346/NHNT-KH/TC/22 ngày 25/10/2022 được lập bởi Ngân hàng Thương mại Cổ phần N và ông Nguyễn Hữu H, bà Trần Thị T được công chứng tại Văn phòng C, số công chứng 11408 quyển số 12/2022TP/CC-SCC/HĐGD có nội dung thỏa thuận xuất phát từ sự tự nguyện, không trái pháp luật và đã đăng ký thế chấp ngày 26/10/2022 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Long An nên hợp đồng có hiệu lực và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

Tại Điều 1 của Hợp đồng thế chấp số: 346/NHNT-KH/TC/22 ngày 25/10/2022 các bên thỏa thuận nghĩa vụ được bảo đảm là các khoản nợ của Bị đơn phát sinh từ Hợp đồng cho vay số 282B22 ngày 25/10/2022 và các hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng.

Tại Bản cam kết của người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn ngày 26/9/2024 thì tại thời điểm Bị đơn ký hợp đồng tín dụng đến ngày 27/9/2024, giữa Nguyên đơn và Bị đơn chỉ ký một Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 27/10/2022 và tài sản thế chấp được đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của ông H, bà T phát sinh từ Hợp đồng cho vay số 282B22 ngày 25/10/2022 và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 27/10/2022.

Hội đồng xét xử căn cứ nội dung thỏa thuận của các bên tại hợp đồng thế chấp và khoản 7 Điều 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn về xử lý tài sản thế chấp, cụ thể: Trong trường hợp ông Nguyễn Hữu H, bà Trần Thị T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi phát sinh đối với Hợp đồng cho vay số 282B22 ngày 25/10/2022 và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 27/10/2022 theo quyết định của Tòa án, thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần N có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 360, Tờ bản đồ số 23, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tài sản khác gắn liền với đất số DC 774747; Số vào sổ cấp GCN: CS09641 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh L cấp ngày 28/10/2021, cập nhật quyền sử dụng đất cho Nguyễn Hữu H ngày 27/5/2022.

Nguyên đơn có trách nhiệm trả lại cho Bị đơn bản Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tài sản khác gắn liền với đất số DC 774747; Số vào sổ cấp GCN: CS09641 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh L cấp ngày 28/10/2021, cập nhật quyền sử dụng đất cho Nguyễn Hữu H ngày 27/5/2022, ngay khi Bị đơn trả xong các khoản nợ đối với các Hợp đồng cho vay số 282B22 ngày 25/10/2022 và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 27/10/2022.

[3] Xét đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và giải quyết nội dung vụ án nêu trên phù hợp với những đánh giá, nhận định của Hội đồng xét xử. Do vậy, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

[4]. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên Bị đơn phải chịu theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên Bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 323, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật Các tổ chức Tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và Thông báo số 15/TB-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc đính chính Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án Dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014;

Căn cứ Luật phí và Lệ phí năm 2015.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần N:

1) Buộc ông Nguyễn Hữu H và bà Trần Thị T có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N số tiền nợ đối với Hợp đồng cho vay số: 282B22 ngày 25/10/2022, tạm tính đến ngày 27/9/2024 là: 4.204.609.474 đồng (Bốn tỉ, hai trăm lẻ bốn triệu, sáu trăm lẻ chín nghìn, bốn trăm bảy mươi bốn đồng). Trong đó nợ gốc: 3.999.820.214 đồng (Ba tỉ, chín trăm chín mươi chín triệu, tám trăm hai mươi nghìn, hai trăm mười bốn đồng), lãi trong hạn: 138.602.524 đồng (Một trăm ba mươi tám triệu, sáu trăm lẻ hai nghìn, năm trăm hai mươi bốn đồng), lãi phạt gốc quá hạn: 63.414.139 đồng (Sáu mươi ba triệu, bốn trăm mười bốn nghìn, một trăm ba mươi chín đồng), lãi phạt lãi: 2.772.597 đồng (Hai triệu, bảy trăm bảy mươi hai nghìn, năm trăm chín mươi bảy đồng).

Ông Nguyễn Hữu H và bà Trần Thị T phải tiếp tục liên đới trả tiền lãi từ ngày 28/9/2024 trên số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất thỏa thuận của Hợp đồng cho vay số 282B22 ngày 25/10/2022 và Giấy nhận nợ số 10 ngày 18/10/2023, số 11 ngày 19/10/2023 và số 12 ngày 20/10/2023 đến khi trả hết nợ vay cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N.

2) Buộc ông Nguyễn Hữu H và bà Trần Thị T có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N số tiền tạm tính đến ngày 27/9/2024 là 209.213.745 đồng (Hai trăm lẻ chín triệu, hai trăm mười ba nghìn, bảy trăm bốn mươi lăm đồng). Trong đó nợ gốc 190.400.610 đồng (Một trăm chín mươi triệu, bốn trăm nghìn, sáu trăm mười đồng), nợ lãi: 15.816.375 đồng (Mười lăm triệu, tám trăm mười sáu nghìn, ba trăm bảy mươi lăm đồng), phí phạt: 2.996.760 đồng (Hai triệu, chín trăm chín mươi sáu nghìn, bảy trăm sáu mươi đồng) đối với khoản nợ vay thẻ tín dụng theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng số 282B22/PHT ngày 27/10/2022.

Ông Nguyễn Hữu H và bà Trần Thị T tiếp tục liên đới trả tiền lãi tính từ ngày 28/9/2022 với lãi suất thỏa thuận của Giấy đề nghị kiêm hợp đồng số 282B22/PHT ngày 27/10/2022 đến khi trả hết nợ vay cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N.

3) Trong trường hợp ông Nguyễn Hữu H và bà Trần Thị T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi phát sinh đối với hai Hợp đồng cho vay số 282B22 ngày 25/10/2022 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng số 282B22/PHT ngày 27/10/2022 theo quyết định của Tòa án, thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần N có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số: 360, tờ bản đồ số: 23; Địa chỉ: Thị trấn C, huyện C, Tỉnh Long An (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 774747; Số vào sổ cấp GCN: CS09641 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh L cấp ngày 28/10/2021, cập nhật chủ sở hữu cho Nguyễn Hữu H ngày 27/5/2022) theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 346/NHNT-KH/TC/22 ngày 25/10/2022 để thu hồi nợ.

4) Ngân hàng Thương mại Cổ phần N có trách nhiệm trả lại cho ông Nguyễn Hữu H bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tài sản khác gắn liền với đất số DC 774747; Số vào sổ cấp GCN: CS09641 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh L cấp ngày 28/10/2021, cập nhật quyền sử dụng đất cho Nguyễn Hữu H ngày 27/5/2022, ngay khi ông Nguyễn Hữu H và bà Trần Thị T trả xong các khoản nợ của Hợp đồng cho vay số 282B22 ngày 25/10/2022 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng số 282B22/PHT ngày 27/10/2022.

5) Ông Nguyễn Hữu H và bà Trần Thị T có trách nhiệm liên đới trả lại cho Ngân hàng N số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ mà Ngân hàng Thương mại Cổ phần N đã tạm ứng.

6) Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Hữu H và bà Trần Thị T liên đới chịu án phí 112.413.823 đồng (Một trăm mười hai triệu, bốn trăm mười ba nghìn, tám trăm hai mươi ba đồng).

Ngân hàng Thương mại Cổ phần N không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.069.170 đồng (Năm mươi sáu triệu, không trăm sáu mươi chín nghìn, một trăm bảy mươi đồng) theo Biên lai thu tiền số 0038890 ngày 21/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

7) Về quyền kháng cáo: Các đương sự có thời hạn kháng cáo đối với bản án là 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

8) Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 3035/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 3035/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn thanh toán dư nợ tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger