Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 3034/2024/DS-ST

Ngày: 27/9/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng

sử dụng thẻ tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Cành.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Trần Hoàng Hạnh.
  2. Bà Nghiêm Thị Xuân Huê.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Liên - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1 đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 250/2024/TLST-DS ngày 10/4/2024 về “Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15658/2024/QĐXXST-DS ngày 20/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16659/2024/QĐST-DS ngày 06/9/2024 giữa:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S.

Địa chỉ: 2 N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của Nguyên đơn: Ông Lã Ngọc M, sinh năm 1970 (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

Địa chỉ liên hệ: B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Theo Giấy ủy quyền số 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022 và Giấy uỷ quyền số 581/2024/UQ-TGĐ ngày 09/01/2024).

- Bị đơn: Ông Phan Hữu D, sinh năm 2000 (Vắng mặt).

Địa chỉ: 1 T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện, tại các bản khai, trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại Đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, ông Lã Ngọc M là Người đại diện hợp pháp của Nguyên đơn - Ngân hàng TMCP S trình bày:

Ngày 03/12/2018, Bị đơn ông Phan Hữu D có ký với Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng (sau đây gọi tắt là “Hợp đồng tín dụng”). Căn cứ thu nhập của Bị đơn, Nguyên đơn đã đồng ý cấp thẻ tín dụng số thẻ 356481-9850 với hạn mức sử dụng là 33.000.000 đồng, mục đích sử dụng: tiêu dùng cá nhân. Mức lãi suất tại thời điểm vay là 2,77%/tháng.

Quá trình sử dụng thẻ, Bị đơn đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 63.164.300 đồng. Từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, Bị đơn chỉ thanh toán cho Nguyên đơn số tiền 71.990.729 đồng. Số tiền này được áp dụng thanh toán theo thứ tự quy định tại Điều 20 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng, cụ thể:

  • + Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước;
  • + Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước;
  • + Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước;
  • + Các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ;
  • + Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ;
  • + Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng Bị đơn vẫn không có thiện chí trả số nợ còn thiếu, nên ngày 23/12/2022 Nguyên đơn đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ, chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu của Bị đơn sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất nợ quá hạn (150% lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại, lãi suất trong hạn là 2,77%/tháng x 150% = 4,15%/tháng lãi quá hạn) đối với dư nợ chưa thanh toán tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Thời điểm chuyển nợ quá hạn, nợ gốc Bị đơn chưa thanh toán là 36.909.155 đồng.

Do đó, Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc Bị đơn thanh toán ngay một lần toàn bộ tiền nợ còn thiếu tạm tính đến ngày 27/9/2024 là 69.833.180 đồng (Trong đó dư nợ gốc là 36.909.155 đồng, lãi quá hạn là 32.924.025 đồng) theo Hợp đồng tín dụng mà các bên đã tham gia ký kết. Nợ lãi tiếp tục phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng cho đến khi Bị đơn hoàn tất nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ đối với Nguyên đơn.

* Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã nhiều lần triệu tập nhưng Bị đơn vắng mặt không có lý do, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn và không trình bày ý kiến đối với các tài liệu, chứng cứ Tòa án công bố.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Tp . phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tòa án xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thời hiệu, thực hiện thủ tục cấp tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát, thành phần tham gia xét xử được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do mặc dù đã được tống đạt hợp lệ. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 không có kiến nghị gì về tố tụng.

Về nội dung: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở chấp nhận toán bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, buộc Bị đơn thanh toán công nợ gốc còn thiếu và lãi suất chậm thanh toán theo yêu cầu của Nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về pháp luật tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Xét, Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Bị đơn thanh toán nợ gốc và lãi là tranh chấp phát sinh trong hoạt động cấp tín dụng của Nguyên đơn. Bị đơn có địa chỉ tại Quận A nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 1, Tp . theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[1.2] Về việc xét xử vắng mặt đương sự:

[1.2.1] Về việc vắng mặt Nguyên đơn:

Nguyên đơn có đơn yêu cầu được vắng mặt tại các phiên tòa xét xử vụ án. Xét là sự tự nguyện, không trái pháp luật nên chấp nhận.

[1.2.2] Về việc vắng mặt Bị đơn:

Căn cứ kết quả cung cấp thông tin của Công an phường T, Quận A: Bị đơn hiện có hộ khẩu thường trú tại 1 T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không thực tế cư trú tại đây, đồng thời Bị đơn không thực tế cư trú tại số A T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó địa chỉ nơi Bị đơn đăng ký hộ khẩu thường trú 1 T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là nơi cư trú cuối cùng của Bị đơn. Xét Bị đơn thay đổi địa chỉ cư trú nhưng không thông báo cho Nguyên đơn biết được xem là cố tình giấu địa chỉ, Toà án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung, địa chỉ thường trú là địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của Bị đơn làm cơ sở để thực hiện thủ tục cấp tống đạt và niêm yết theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập Bị đơn tham gia phiên toà đến lần thứ hai nhưng Bị đơn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành phiên toà xét xử vắng mặt Bị đơn theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Về thời hiệu giải quyết vụ án:

Tại khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định: “Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc”. Quá trình giải quyết vụ án, Bị đơn vắng mặt, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn và ý kiến liên quan đến việc áp dụng thời hiệu giải quyết vụ án.

[3] Về việc ủy quyền tham gia tố tụng:

Nguyên đơn ủy quyền khởi kiện, tham gia tố tụng cho Công ty TNHH MTV Q và Khai thác tài sản Ngân hàng S; Công ty TNHH MTV Q và Khai thác tài sản Ngân hàng S ủy quyền cho ông Lã Ngọc M thay mặt tham gia tố tụng để thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự là không vượt quá phạm vi được ủy quyền, phù hợp với quy định tại Điều 85, Điều 86 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[4] Về pháp luật nội dung:

[4.1] Xét yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn:

Căn cứ tài liệu, chứng cứ do Nguyên đơn giao nộp gồm: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 03/12/2018; Quyết định về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ T phát hành tại Việt Nam số 2661/2022/QĐ-TTT ngày 28/10/2022 và các tài liệu chứng minh về nhân thân của Bị đơn, có cơ sở xác định Bị đơn có ký với Nguyên đơn hợp đồng tín dụng và được Ngân hàng đồng ý cấp Thẻ tín dụng số thẻ 356481-9850 với hạn mức sử dụng là 33.000.000 đồng, mục đích sử dụng: tiêu dùng cá nhân. Mức lãi suất tại thời điểm vay là 2.77%/tháng.

Thực hiện hợp đồng, Bị đơn đã thực hiện giao dịch với tổng số tiền là 63.164.300 đồng, Bị đơn đã thanh toán 71.990.729 đồng cho Nguyên đơn. Đến ngày 23/12/2022, do Bị đơn nhiều lần vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng Thẻ tín dụng và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, nợ gốc Bị đơn chưa thanh toán là: 36.909.155 đồng.

Như vậy, hợp đồng tín dụng được xác lập và thoả thuận trên cơ sở tự nguyện của cả hai bên, không trái quy định pháp luật nên được công nhận. Bị đơn đã được Nguyên đơn đồng ý cấp Thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 33.000.000 đồng theo như thoả thuận. Tuy nhiên Bị đơn không thực hiện việc thanh toán nợ gốc, nợ lãi, phí. Việc Nguyên đơn thông báo thu hồi quyền sử dụng thẻ, chuyển dư nợ quá hạn từ ngày 23/12/2022 với số tiền 36.909.155 đồng và áp dụng mức lãi suất quá hạn 150% lãi suất vay trong hạn là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng.

Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, buộc Bị đơn phải thanh toán cho Nguyên đơn tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày tạm tính đến ngày 27/9/2024 là 69.833.180 đồng (Trong đó dư nợ gốc là 36.909.155 đồng, lãi quá hạn là 32.924.025 đồng) ngay khi án có hiệu lực pháp luật, tiền lãi tiếp tục phát sinh trên số tiền nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận tại hai hợp đồng tín dụng.

[4.2] Xét ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 1 về việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề nghị giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn là phù hợp, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn được chấp nhận nên Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tính trên số tiền phải thanh toán cho Nguyên đơn; hoàn trả tiền tạm ứng án phí đã nộp cho Nguyên đơn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và các Điều 203, 264, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 91; Điều 95 Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Điều 463; Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và Thông báo số 15/TB-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc đính chính Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án Dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn - Ngân hàng TMCP S.

Buộc ông Phan Hữu D phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP S khoản nợ của Thẻ tín dụng số thẻ 356481-9850 tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 27/9/2024 là 69.833.180 đồng (Sáu mươi chín triệu, tám trăm ba mươi ba ngàn, một trăm tám mươi đồng) (Trong đó dư nợ gốc là 36.909.155 đồng, lãi quá hạn là 32.924.025 đồng) ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông Phan Hữu D còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 03/12/2018. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất sẽ được tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phan Hữu D phải chịu án phí sơ thẩm số tiền là 3.491.659 đồng (Ba triệu, bốn trăm chín mươi mốt ngàn, sáu trăm năm mươi chín đồng).

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.408.932 đồng (Một triệu, bốn trăm lẻ tám ngàn, chín trăm ba mươi hai đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0038119 ngày 08/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1.

3. Về quyền kháng cáo:

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Quận 1;
  • - Chi cục THADS Quận 1;
  • - TANDTP.HCM;
  • - VKSND TPHCM;
  • - Lưu VP, hồ sơ.

Phan Văn Cành

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 3034/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng

  • Số bản án: 3034/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn thanh toán dư nợ tín dụng còn thiếu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger