|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 3030/2024/DS-ST Ngày: 11/7/2024 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Bùi Thị Phụng
- 2. Ông Huỳnh Tiến Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Ngự – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Bà Trần Võ Hồng Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án thụ lý số 184/2023/DSST ngày 10/02/2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3195/2024/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 4187/2024/QÐST-DS ngày 17/6/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Phan Văn H, sinh năm 1990(có mặt).
HKTT: Số D T, xã P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
Địa chỉ: Số B P, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Bị đơn: Ông Nguyễn Đức H1, sinh năm 1984 (có mặt)
HKTT: Thôn Ea Kung, xã Cư Huê, huyện Ea Kar, tỉnh Đăk Lăk
Địa chỉ: Số 22 Đường 3, Khu đô thị Vạn Phúc, phường Hiệp Bình Phước, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện của ông Phan Văn H cùng các lời khai tiếp theo của ông H thì nội dung vụ án như sau:
Vào năm 2019, ông Nguyễn Đức H1 đề nghị ông góp vốn kinh doanh, ông đã chuyển vào số tài khoản khoản 0101038399 của ông Nguyễn Đức H1 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền 700.000.000 đồng và tiền mặt. Khi ông phát hiện ông H1 không thực hiện việc kinh doanh như đã nói với ông và không có khả năng thanh toán thì ông H1 và ông thỏa thuận chuyển qua nợ vay. Ngày 30/12/2019, ông và ông Nguyễn Đức H1 đã ký Giấy vay tiền với nội dung ông Phan Văn H cho ông Nguyễn Đức H1 vay số tiền 750.000.000 đồng với lãi suất 1%/tháng. Thời hạn vay đến ngày 30/6/2020.
Sau khi ký giấy vay tiền thì ông H1 cắt đứt liên lạc, không thanh toán bất kỳ khoản tiền gốc và tiền lãi nào cho ông Phan Văn H
Ông Phan Văn H khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Đức H1 thanh toán số tiền còn nợ tạm tính đến ngày nộp đơn khởi kiện là 1.290.000.000 (Một tỷ hai trăm chín mươi triệu) đồng, trong đó nợ gốc là 750.000.000 đồng, nợ lãi là 210.000.000 đồng và tiền phạt trễ thanh toán là 330.000.000 đồng.
Ngày 05/7/2024, ông Phan Văn H có đơn xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, ông yêu cầu ông Nguyễn Đức H1 thanh toán cho ông số tiền nợ gốc là 700.000.000 đồng. Ông rút lại yêu cầu khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Đức H1 thanh toán nợ gốc 50.000.000đồng và toàn bộ nợ lãi.
Bị đơn ông Nguyễn Đức H1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và các giấy triệu tập. Tuy nhiên, ông H1 vẫn vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến, yêu cầu gì.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn ông Phan Văn H trình bày:
Ông Phan Văn H yêu cầu ông Nguyễn Đức H1 thanh toán cho ông số tiền nợ gốc 700.000.000đồng. Ông rút lại một phần yêu cầu khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Đức H1 thanh toán số tiền nợ gốc 50.000.000đồng, nợ lãi theo đơn khởi kiện là 210.000.000 đồng và tiền phạt trễ thanh toán là 330.000.000 đồng. Hai bên thực hiện giao dịch tại thành phố T.
Bị đơn ông Nguyễn Đức H1 vắng mặt tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành tố tụng từ khi thụ lý cho đến mở phiên tòa đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, đã vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, thư ký đã chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn ông Phan Văn H đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn ông Nguyễn Đức H1 đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung: Có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Văn H yêu cầu ông Nguyễn Đức H1 thanh toán cho ông số tiền 700.000.000 đồng. Do ông H đã rút một phần yêu cầu khởi kiện, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của ông H đúng quy định của pháp luật nên đề nghị đình chỉ phần yêu cầu ông H đã rút.
Về án phí đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Ông Phan Văn H khởi kiện yêu cầu tranh chấp hợp đồng vay tài sản với ông Nguyễn Đức H1. Hợp đồng được thực hiện tại thành phố T và ông Phan Văn H lựa chọn Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức thụ lý, giải quyết vụ án nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức theo quy định tại Điều 26, 35, 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đơn khởi kiện của Ông Phan Văn H phù hợp quy định tại Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn ông Nguyễn Đức H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ 2 nhưng ông H1 vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông H1.
[2] Về nội dung:
Ngày 05/7/2024, ông Phan Văn H có đơn xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Đức H1 thanh toán cho ông số tiền nợ gốc là 50.000.000đồng và toàn bộ nợ lãi nợ lãi 210.000.000 đồng và tiền phạt trễ thanh toán là 330.000.000 đồng. Tại phiên tòa ông H vẫn giữ nguyên yêu cầu này.
Việc rút đơn của ông H là tự nguyện và đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Đối với yêu cầu của ông Phan Văn H yêu cầu ông Nguyễn Đức H1 thanh toán số tiền 700.000.000 đồng, Hội đồng xét xử xét:
Theo trình bày của ông Phan Văn H thì ông và ông Nguyễn Đức H1 có quan hệ góp vốn để kinh doanh mua bán nhà đất. Ông đã chuyển cho ông Nguyễn Đức H1 tổng số tiền 780.000.000đồng. Trong đó có 80.000.000đồng tiền mặt và 700.000.000đồng chuyển qua số tài khoản của ông H1.
Căn cứ vào Sao kê tài khoản tiền gửi khách hàng Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 Chi nhánh Đ2 thể hiện ông Phan Văn H đã chuyển số tiền 700.000.000đồng vào số khoản 0101038399 của ông Nguyễn Đức H1 mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ cụ thể như sau: Ngày 07/9/2019 chuyển 50.000.000đồng; Ngày 07/9/2019 chuyển 10.000.000đồng; Ngày 10/9/2019 chuyển 50.000.000đồng; Ngày 10/9/2019 chuyển 50.000.000đồng; Ngày 11/9/2019 chuyển 150.000.000đồng; Ngày 11/9/2019 chuyển 150.000.000đồng; Ngày 11/9/2019 chuyển 40.000.000đồng; Ngày 28/9/2019 chuyển 150.000.000đồng; Ngày 28/9/2019 chuyển 50.000.000đồng. Tất cả các lần chuyển tiền cùng với nội dung góp vốn kinh doanh.
Như vậy, có cơ sở xác định ông H có chuyển số tiền 700.000.000đồng cho ông Nguyễn Đức H1.
Theo lời trình bày của ông H, khoảng 3 tháng sau khi chuyển tiền cho ông H1 thì ông H đã phát hiện ông H1 không sử dụng số tiền vào hoạt động kinh doanh như đã hứa mà sử dụng vào mục đích cá nhân. Nên ông H đã yêu cầu ông H1 trả lại tiền. Ông H1 đồng ý nhưng không có tiền để trả nên hai bên có lập Giấy vay tiền ngày 30/12/2019. Tuy số tiền ông H đã chuyển là 780.000.000đồng nhưng hai bên thống nhất lập giấy vay tiền với số tiền vay là 750.000.000đồng. Thời hạn vay đến ngày 30/6/2020. Từ khi giao tiền đến nay, ông H1 đã không thanh toán cho ông bất kỳ khoản tiền vốn và lãi nào. Sau khi ký giấy vay tiền ngày 30/12/2019 ông H1 đã cắt đứt mọi liên lạc với ông H.
Ông Nguyễn Đức H1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng, nhưng ông H1 không có mặt tại Tòa án và cũng không gửi văn bản bày ý kiến, yêu cầu về nội dung giải quyết vụ án.
Từ những phân tích ở trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện ông Phan Văn H buộc ông Nguyễn Đức H1 phải thanh toán cho ông H số tiền 700.000.000đồng.
Án phí dân sự sơ thẩm ông H1 phải chịu trên số tiền phải trả cho ông H
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có căn cứ theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 166, 357, 468, 466 Bộ luật Dân sự 2015;
- Luật Phí, lệ phí năm 2015;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
- Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2014).
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Văn H
- Đình chỉ yêu cầu của ông Phan Văn H yêu cầu ông Nguyễn Đức H1 thanh toán số tiền nợ gốc 50.000.000đồng và nợ lãi nợ gốc 50.000.000đồng và toàn bộ nợ lãi nợ lãi 210.000.000 đồng và tiền phạt trễ thanh toán là 330.000.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Về quyền kháng cáo:
Buộc ông Nguyễn Đức H1 phải trả cho ông Phan Văn H số tiền 700.000.000đồng.
Kể từ ngày nguyên đơn ông Phan Văn H có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Nguyễn Đức H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Ông Nguyễn Đức H1 phải nộp số tiền 32.000.000 đồng.
H2 lại cho Ông Phan Văn H số tiền tạm ứng án phí 25.350.000đồng theo Biên lai thu số 0027661 ngày 08/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
Án xử công khai sơ thẩm, đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày ngày bản án được tống đạt, niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Thanh |
Bản án số 3030/2024/DS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 3030/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
